Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
02 Tháng 5 2008 - Cập nhật 14h48 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn   Bản để in ra
Cuộc điều tra Peers về vụ Mỹ Lai
 
Ảnh của Ronald Haeberle
Ảnh của Ronald Haeberle
Vụ thảm sát và hãm hiếp của quân lính Hoa Kỳ ở Mỹ Lai ngày 16/3/1968 đã cướp đi sinh mạng của 504 thường dân.

Vụ việc này, sau đó bị che đậy trong một thời gian dài, đã trở thành một trong những trang đen tối nhất trong lịch sử quân sự Mỹ.

Trong chương trình được thực hiện cho đài phát thanh BBC Thế giới vụ, chúng tôi đã tìm hiểu những gì đã xảy ra thông qua tư liệu lưu trữ và băng ghi âm các cuộc thẩm vấn với nhiều nhân chứng.

Những đoạn băng trong cuộc điều của quân đội Hoa Kỳ về vụ Mỹ Lai chưa từng được công bố trên bất cứ phương tiện truyền thông nào trước đây.

Cuộc tấn công kéo dài khoảng 4 tiếng đồng hồ, bắt đầu lúc khoảng 7 giờ 30 sáng với các cuộc không kích.

Vài phút trước khi kim đồng hồ chỉ 8 giờ đại đội Charlie tiến vào Mỹ Lai và theo sau là đại đội Bravo tiến vào Mỹ Khê, cách Mỹ Lai 3 km về phía đông. Tổng cộng khoảng 190 lính.

Ronald Haeberle là một phóng viên nhiếp ảnh cho quân đội Mỹ lúc ở Việt Nam. Bây giờ đã gần 70 tuổi ông kể lại những gì đã chứng kiến và chụp hình được hôm đó.

''Ngay sau khi những chiếc trực thăng hạ cánh, chúng tôi nhảy ra ngoài và nghe thấy rất nhiều tiếng nổ. Lạy Chúa, ta sa vào tâm điểm của vụ tấn công, tôi thầm nghĩ. Nhưng ngay sau đó vài phút tôi hiểu rằng không phải, không có quả bom nào phát nổ ở gần đấy.''

''Tất cả chúng tôi dừng lại và bắt đầu nhìn chằm chằm vào con đường phía trước. Tôi đã có thể nhìn thấy một số người trên đường, dường như đang chạy, đang chuyển động, và những binh lính Mỹ đang giẫm đạp và bắn đạn không thương tiếc vào những con người này.''

 Điều kinh dị nhất là cảnh tượng những binh lính nhảy lên những con trâu và đâm chúng chết bằng lưỡi lê. Tất cả là một cảnh tượng khủng khiếp, cho đến tận hôm nay tôi vẫn không thể cắt nghĩa những gì tôi đã chứng kiến.
 
Ronald Haeberle

''Cảnh tượng phụ nữ và trẻ em bị bắn chết, trong khoảnh khắc đã làm tôi kinh sợ, và dường như không còn hiểu chuyện gì xảy ra ở đây.''

''Sau đó chúng tôi bắt đầu tiến sâu vào trong làng, và khi tôi bắt đầu bước vào làng, một thảm cảnh tàn sát hiện ra trước mắt.''

''Những mái nhà lợp lá cháy đùng đùng. Xác chết trải dài trên đường, vài người nằm gục trên những vũng máu. Thật không thể tượng tưởng nổi.''

''Điều kinh dị nhất là cảnh tượng những binh lính nhảy lên những con trâu và đâm chúng chết bằng lưỡi lê. Tất cả là một cảnh tượng khủng khiếp, cho đến tận hôm nay tôi vẫn không thể cắt nghĩa những gì tôi đã chứng kiến.''

Một trong những người lính trực tiếp tham gia tấn công hôm đó là Fred Widmer của đại đội Charlie.

''Tôi nhìn thấy một thằng bé, cánh tay treo lủng lẳng và ruột non trào ra ngoài, ai đó đã bắn nó trước đó. Tôi đã tiếp tục bắn nó, tôi đã giết nó chết.''

''Tôi đã nghĩ giết nó có thể coi là một sự giải thoát vì nó không thể được cứu sống trong tình trạng như vậy nữa. Và đó cũng là nhiệm vụ mà tôi phải làm.''

Ronald Haeberle cho biết ông đã chứng kiến cảnh Fred Widmer giết cậu bé này.

''Tôi chợt nhận ra là người lính Mỹ này quì xuống phía sau tôi, giơ súng lên và bắn đứa trẻ. Tôi sẽ không bao giờ quên lúc nhìn thấy đứa trẻ bị bắn tung lên không trung và rơi xuống đống xác chết.''

''Người lính ngước lên nhìn tôi. Tôi cũng nhìn anh ta chằm chặp. Tôi hỏi: Tại sao lại giết nó? Anh ta không nói gì, chỉ nhìn tôi, chúng tôi mặt đối mặt, và sau đó anh ta quay người bỏ đi.''

Bốn tiếng sau đó, hai đại đội của lực lượng đặc nhiệm Barker rút đi. Một người lính Mỹ bị thiệt mạng và tám người khác bị thương.

Ba Việt cộng bị giết - tất cả các du kích quân khác đã bỏ trốn trước vụ tấn công.

Nhưng 504 dân làng vô tội đã bị giết, rất nhiều người bị chết cháy và trở thành tàn phế. Đàn bà con gái bị hãm hiếp. Ba ngôi làng bị phá huỷ hoàn toàn. Gia súc bị đâm chết và đồng ruộng tan hoang.

Tuy vậy đó không phải là những gì công chúng được biết. Vụ tấn công được xem một chiến thắng đáng khích lệ của quân đội Mỹ. Tướng Westmoreland, chỉ huy trưởng của quân đội Mỹ, thậm chí đã gửi một bức điện khen ngợi các sĩ quan chỉ huy.

Lộ ra ánh sáng

Haeberle đầu tiên đăng ảnh lên Life Magazine

Mặc dù bị che giấu vụ thảm sát Mỹ Lai từ từ được lộ ra ánh sáng nhờ nhiều yếu tố.

Ronald Ridenhour, cũng từng tham chiến tại Việt Nam, trong khi ngồi nói chuyện với một người bạn vốn trước đây là binh lính trong đại đội Charlie, đã được nghe anh ta kể về vụ thảm sát này.

Anh ta cũng nói rằng tất cả các binh lính Mỹ được dặn là không tiết lộ ra ngoài các tình tiết về vụ việc.

Ridenhour choáng váng trước sự thật, và vốn là một nhà báo xông xáo, ông bắt đầu tiến hành điều tra về vụ thảm sát này.

Vào ngày 29/03/1969, tròn một năm sau vụ việc Mỹ Lai, Ridenhour đã gửi một bức thư đầy phẫn nộ đến Tổng thống Mỹ Richard Nixon, Tướng Westmoreland và một số các chính khách cũng như các nghị sĩ quốc hội Mỹ như sau:

Thưa các Ngài. Cuối tháng 4 năm 1968 là lần đầu tiên tôi được nghe về địa danh gọi là Làng Hồng và những gì xảy ra ở đó. Tôi đã rất nghi ngờ khi lần đầu tiên nghe về vụ việc này, nhưng nhiều tháng sau đó tôi liên tiếp nhận được những tường thuật giống nhau từ nhiều nhân chứng khác nhau về vụ thảm sát, và điều này đã buộc tôi không thể không tin rằng đã xảy ra một sự kiện đẫm máu và đang bị che giấu tại Làng Hồng ở nước Việt Nam.

Tiếp theo bức thư này, vào cuối năm 1969 Ronald Haeberle đã công bố những bức ảnh của vụ thảm sát Mỹ Lai trên tạp chí “Life Magazine”.

Một nhà báo nổi tiếng khác, Seymour Hersh cũng đã nhảy vào điều tra vụ việc và tung sự thật về vụ thảm sát lên tờ New York Times.

Các viên chức cao cấp trong quân đội Mỹ hiểu rằng họ cần phải hành động, hành động âm thầm, ngay trước khi chuyện vỡ lở trên báo chí, đã lập tức tiến hành điều tra vụ việc.

Nhưng mục tiêu chỉ để hạn chế tối đa hậu quả, tập trung vào một đại đội, một thôn nhỏ ở Mỹ Lai và chỉ đưa ra tòa án quân sự 5 quân nhân.

Và trong năm người đó chỉ có một duy nhất bị kết án là Trung úy William Calley thuộc đại đội Charlie.

Anh ta bị qui kết đã giết chết 102 dân làng nhưng sau một phiên toà kéo dài, cuối cùng số bị kết án chỉ có 22 tội danh sát nhân.

Trung úy Calley đã tự bào chữa rằng anh ta chỉ tuân theo mệnh lệnh của chỉ huy.

''Nếu tôi phải thừa nhận tôi phạm tội, thì tội lỗi duy nhất của tôi là đã tự đặt cho mình mục tiêu khi tham chiến. Hiển nhiên là tôi sẽ ưu tiên bảo vệ mạng sống của đồng đội của tôi hơn là quân thù, nhất là khi những người lính Mỹ bị giết và tàn sát bởi một kẻ thù vô hình.''

''Đã ai trong giới quân sự từng mô tả điều gì khác hơn là “chủ nghĩ cộng sản”? Ai đã từng chỉ cho tôi biết tên tuổi, sắc tộc hay giới tính của kẻ thù?''

''Họ chưa bao giờ bảo tôi rằng tôi cần phải làm gì, và khi chỉ còn mình tôi đối mặt với kẻ thù, tôi cần phải chiến đấu vì mạng sống của đồng đội của tôi. Tôi cảm thấy đó là tội lỗi duy nhất mà tôi có thể thừa nhận.''

Trong công chúng Mỹ đã dấy lên làn sóng đồng cảm và ủng hộ Calley. Anh ta được coi là một nạn nhân, bị "thí tốt” cho vụ việc.

Tổng thống Richard Nixon cuối cùng đã giảm án về cơ bản cho anh ta. Nhưng vào tháng 12/1969, tại một cuộc họp báo ở Nhà Trắng, cuối cùng ông Nixon đã thừa nhận sự kiện Mỹ Lai là một vụ tàn sát.

''Những gì đã xảy ra dường như chắc chắn là một vụ thảm sát dù kết quả điều tra có thế nào đi nữa. Một trong những mục tiêu chúng ta theo đuổi tại cuộc chiến tranh Việt Nam là giúp miền Nam Việt Nam chống lại sự áp đặt bạo tàn đối với dân chúng, và vì thế chúng ta không bao giờ nên dùng chính sự tàn ác để đạt được mục tiêu đó.''

Cuộc điều tra Peers

Vào cuối năm 1969, chỉ huy trưởng quân đội Mỹ, tướng Westmoreland, sau khi rời Việt Nam đã nhận chức Tổng tư lệnh quân đội Mỹ.

Ông và Bộ trưởng bộ Quốc phòng, Stanley Resor, đã lo lắng về những tin đồn xung quanh việc che giấu sự kiện Mỹ Lai nên quyết định tiến hành điều tra nội bộ.

Cuộc điều tra sau đó đã được biết đến với cái tên Peers Inquiry hay Cuộc điều tra của tướng Peers.

Những nhân vật chủ chốt tham gia ban điều tra gồm có tướng William R Peers, đại tá về hưu Bland West, hai luật sư dân sự, và một nhóm các quan chức quân sự cao cấp. Mọi nỗ lực đã được huy động ở mức cao nhất và hầu như không có bất cứ chi tiết nào bị bỏ sót.

Tướng William R Peers
Tướng Peers chỉ huy cuộc điều tra

Trong vòng ba tháng từ tháng 12/1969 đến tháng 3/1970, ủy ban điều tra đã tiến hành thẩm vấn 403 nhân chứng một cách bí mật từ lính bộ binh cho đến các chỉ huy sư đoàn.

Các cuốn băng thu lời khai của các nhân chứng đã kéo dài đến hơn 400 giờ đã không hề được phát hiện ra cho đến tận năm ngoái khi nhà báo người Anh, Celina Dunlop tìm thấy tại Viện lưu trữ quốc gia ngay bên ngoài Washington.

Jerome Walsh, một trong hai luật sư được tướng Peers bổ nhiệm, nói với BBC trong vụ này tướng Peers đã có toàn quyền tiếp cận bất cứ ngóc ngách nào để có được bất cứ thông tin gì ông ta muốn.

Bản thân tướng Peers tại thời điểm cuộc điều tra đã 55 tuổi và phục vụ cho quân đội Mỹ 32 năm trải qua 3 cuộc chiến Thế chiến II, Triều Tiên và Việt Nam.

Ngay lúc khởi đầu của cuộc điều tra, tướng Peers đã đặt ra tất cả các mục tiêu cần đạt được.

''Đây là một cuộc điều tra do Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ đồng chỉ huy nhằm mục đích tìm hiểu những thực tế, bối cảnh xung quanh vụ thảm sát, đồng thời cũng nhằm phát hiện và đưa ra những đề xuất cho hai vấn đề: thứ nhất là tính xác thực của các cuộc điều tra, thẩm vấn trước đó và các báo cáo liên quan về sự kiện Mỹ Lai ngày 16 tháng 3 năm 1968, và thứ hai là việc che giấu và không cung cấp thông tin liên quan đến sự kiện này.''

Ủy điều tra đã thẩm vấn 162 người trong lực lượng đặc nhiệm Barker bao gồm ba đại đội Alpha, Bravo và Charlie.

Đa số trong số họ trực tiếp tham gia vào vụ thảm sát, nhưng một số khác đã dũng cảm đứng ngoài. Một trong số này là binh nhì Leonard Gonzales, người Mỹ gốc Mexico.

Dưới đây anh trả lời Đại tá Bland West:

Gonzales: Đó là một ngày tàn sát, đơn giản là tàn sát, giết sạch mọi người.
Đại tá B West: Người ta nói rằng lệnh thảm sát được đưa ra nhằm xoá sạch ngôi làng được cho là cơ sở của Việt Cộng. Việc cào bằng ngôi làng để đạt được điều gì?
Gonzales: Chỉ là giết sạch.
Đại tá West: Giết sạch để không ai còn có thể sống ở đó và tiếp tay cho Việt Cộng?
Gonzales: Đúng thế. Chúng tôi nhận được lệnh nói rằng hãy giết sạch dân làng, giết tất cả, xoá sạch bất cứ cái gì và tất cả mọi thứ. Nhiệm vụ là xoá ngôi làng khỏi bản đồ, vậy thôi.
Đại tá West: Nguyên nhân có thể là do binh lính Mỹ mất kiểm soát chăng?
Gonzales: Không hẳn.
Đại tá West: Vậy tại sao vụ thảm sát lại xảy ra?
Gonzales: Để trả thù. Chúng tôi nghĩ rằng Việt Cộng nằm vùng tại đó và được dân chúng tiếp tay. Nhưng khi tàn sát ngôi làng, chúng tôi không thấy gì hết ngoài dân thường.

Gonzales đã không hề nổ súng trong cuộc thảm sát.

Trước đó người ta chỉ biết là Đại đội Charlie đã tiến hành vụ thảm sát, và chỉ ở làng Mỹ Lai. Nhưng khi tiến hành cuộc điều tra, người ta đã phát hiện ra đại đội thứ hai là Bravo cũng đã tham gia cùng ngày và tiến hành tàn sát tại Mỹ Khê.

Cuộc điều tra cho thấy rõ ràng cả hai đại đội đã được chỉ huy lực lượng đặc biệt Barker là Đại tá Oran Henderson và chỉ huy trực tiếp là Trung tá Barker, huấn lệnh trước khi thi hành nhiệm vụ.

Tướng Peers và nhóm điều tra đã kết luận, kế hoạch tàn sát đã được tính toán kỹ lưỡng, phối hợp ăn ý chứ không đơn giản chỉ là một vụ hỗn loạn tự phát của binh lính Mỹ.

Hầu hết binh lính thuộc đại đội Bravo đều từ chối cung cấp lời chứng.

Tướng Peers cho rằng đó là hành động bưng bít thông tin và vì thế mà những lời chứng dưới đây của Robert Holmes, một tay súng thuộc Đại đội Bravo, là rất quan trọng.

Lời khai của Robert Holmes với Đại tá Wilson:

Đại tá Wilson: Trước đó các anh có thảo luận gì về việc tiêu diệt ngôi làng và thiêu huỷ nhưng ngôi nhà không?
Robert Holmes: Có, có chứ, chúng tôi được biết đó là một cuộc đột kích tìm diệt, và một trong những mệnh lệnh mà tôi nghĩ đã nghe được, hoặc có ai đó đã nói lại, là bắn chết tất cả những thứ gì đang chuyển động hay cử động ở khu vực đó.
Đại tá Wilson: Bất cứ cái gì à?
Robert Holmes: Đúng thế, đấy là theo mệnh lệnh ban xuống. Ngay tại lúc đó tôi cũng không hiểu được tại sao.
Đại tá Wilson: Trước đó anh đã từng nhận được những lệnh tương tự như vậy chưa?
Robert Holmes: Ở khu vực đó thì chưa. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy là Đại tá Barker lúc đó ngày một hậm hực vì lĩnh Mỹ cứ tiêu hao dần. Chúng tôi đã buộc phải tin rằng khu vực mà chúng tôi đang tiến vào là nơi nằm vùng của Việt Cộng và những người ủng hộ Việt Cộng. Khu vực này cần phải bị xoá sạch, không nên còn một bóng người ở đó nữa. Nhưng sự thật là chúng tôi đã thấy có rất, rất nhiều dân thường ở đó.

Trong quá trình điều tra, tướng Peers đã kết luận các tay súng của đại đội Bravo cũng đã giết chết 90 thường dân tại vụ tàn sát làng Mỹ Khê ngày 16 tháng 3 năm 1968.

Con mương
Con mương định mệnh ngày nay

Tuy nhiên số người chết tại làng Mỹ Lai vẫn chiếm phần lớn.

Một người hùng

Trực thăng được huy động để yểm trợ cho quân bộ trong chiến dịch. Phi công Hugh Thomson là một trong số ít những người hùng của ngày hôm đó.

''Khi tôi nhìn thấy đống xác người trong một con mương, tôi vòng lại và phát hiện thấy một vài người vẫn còn sống. Tôi ngồi xuống và quay sang nói chuyện với một người, tôi khá chắc đó là một trung sĩ da màu, rằng có nhiều phụ nữ và trẻ em đang bị thương và đề nghị anh ta cứu họ.''

''Anh ta nói cách duy nhất để cứu họ trong lúc đó là giết họ. Tôi cứ ngỡ anh ta nói đùa và không nghĩ anh ta lại làm thật, tôi hỏi: Tại sao anh không nghĩ rằng anh vẫn có thể giúp họ được? và sau đó tôi lại phải cho trực thăng cất cánh.''

''Khi đó, trưởng phi hành đoàn của tôi cho biết từ trực thăng anh ta nhìn thấy tay lính da màu đang xả đạn vào đám người đó. Tôi ngoái lại thì cũng thấy một tay lính khác cũng đang chĩa súng bắn không thương tiếc vào đống người.''

Khi Hugh Thompson bay trở lại, anh đã đưa được một người còn sống sót trong đống xác chết ra khỏi con mương. Đó là một cậu bé.

Theo một phần nhiệm vụ của cuộc điều tra, Tướng Peers và một số người đã đến Việt Nam một tuần, thu thập các tài liệu liên quan và phỏng vấn những nhân chứng ở Việt Nam.

Đài BBC không có được những cuộn băng ghi âm những lời chứng này, nhưng những đoạn phỏng vấn với những người còn sống sót sau vụ thảm sát trong bộ phim “Bốn giờ ở Mỹ Lai” do hai nhà làm phim Michael Bilton và Kevin Sim thực hiện năm 1988, đã khẳng định các bằng chứng trong cuộc điều tra.

Bà Hà Thị Quý là một người dân làng Mỹ Lai sống sót hôm đó kể lại nhiều người bị bắn chết nằm chồng chất lên nhau dưới một con mương.

''Dân làng bị lùa xuống như vịt vậy đó. Người ta kêu xin tha mạng. Tụi tui là dân thường vô tội mà. Nhưng bọn nó vẫn bắn. Hết một đợt mọi thứ đều im lặng. Mấy đứa nhỏ còn sống bò lên bờ mương nhìn thiệt đứt ruột nhưng tui bị đè nghẹt ở dưới và đang bị thương cũng đâu làm gì được.''

Nếu như viên phi công trực thăng được coi là người hùng trong cuộc điều tra của tướng Peers, và là người hùng của làng Mỹ Lai, thì đại tá Oran Henderson lại bị coi là một kẻ tàn ác.

Dưới đây là đoạn nói chuyện của tướng Peers với đại tá Henderson, người khăng khăng là ông ta không thấy nhiều người bị bắn chết.

Tướng Peers: Ông có thấy xác chết ở khu vực đó không?
Đại tá Henderson: Không, tôi không nhìn thấy xác chết của dân thường nào cả, ngoài khoảng 6-8 xác chết mà tôi thấy ở phía nam làng Mỹ Lai.

Sau năm lần chất vấn tướng Peers tin rằng đại tá Henderson là người đã dàn xếp việc che giấu thông tin về vụ thảm sát Mỹ Lai.

Những phát hiện ngày một nhiều, cho thấy vụ thảm sát đã được tiến hành với qui mô chưa từng có trước đó, và sự bưng bít thông tin cũng được tiến hành ở mức độ cao nhất có thể.

Cho tới lúc này cuộc điều tra đã cho thấy cả hai đại đội Bravo và Charlie đều cùng nhận được mệnh lệnh tàn sát.

Nhưng sau đó người ta cũng phát hiện được là cả hai đại đội đều bất ngờ nhận được những mệnh lệnh riêng rẽ từ một số sĩ quan yêu cầu KHÔNG được giết nữa.

Tuy nhiên một người lính trẻ trong đại đội Charlie, tên Dennis Bunning, khai trước cuộc điều tra rằng việc giết người chấm dứt nhưng hãm hiếp phụ nữ thì vẫn tiếp tục.


Trên đây là bản tiếng Việt của một phần của chương trình Những cuốn băng Mỹ Lai (The My Lai Tapes), của đài BBC Thế giới vụ. Chủ biên là Sue Ellis, người thực hiện là Rosie Goldsmith. Người dẫn chương trình là Robert Hodierne, phóng viên của tờ Thời báo Quân Đội Mỹ. Đây là lần đầu tiên những đoạn băng ghi âm các nhân chứng Mỹ được tiết lộ, nhờ công của ký giả người Anh, Celina Dunlop, của báo The Economist.

 
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Cuộc điều tra Peers (Phần 2)
02 Tháng 5, 2008 | Việt Nam
BBC 4 nhìn lại vụ Mỹ Lai
14 Tháng 3, 2008 | Việt Nam
Oliver Stone làm phim về Mỹ Lai
06 Tháng 9, 2007 | Việt Nam
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn   Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân