Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
24 Tháng 1 2008 - Cập nhật 16h05 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn   Bản để in ra
Về lá thư của Phạm Văn Đồng năm 1958
 
Ông Phạm Văn Đồng (1906-2000)
Ông Phạm Văn Đồng (đứng giữa) giữ chức thủ tướng 32 năm
Năm 1958 Thủ tướng của miền Bắc Việt Nam, ông Phạm Văn Đồng, đã ký một lá thư mà sau này gây rất nhiều tranh cãi. Lá thư ngày 14-9-1958 nói chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tán thành với một tuyên bố của Bắc Kinh về hải phận của Trung Quốc.

Lá thư này được nhiều người xem là sự thừa nhận của Bắc Việt đối với chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa và Hoàng Sa.

Gần đây, sau những tranh cãi giữa hai nước về chủ quyền ở hai hòn đảo, lá thư của ông Phạm Văn Đồng lại được đưa ra thảo luận, tuy không chính thức, ở Việt Nam và trong giới người Việt ở nước ngoài.

Vậy nhận định của giới nghiên cứu nước ngoài về lá thư là như thế nào?

BBC Tiếng Việt đã hỏi tiến sĩ Balazs Szalontai, một nhà nghiên cứu về châu Á đang sống ở Hungary. Đầu tiên ông giải thích hai quan điểm khác nhau của Bắc Việt trong thập niên 1950 và 1974, năm Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trong các năm 1955-1958, ban lãnh đạo Bắc Việt chưa đạt tới mục tiêu thống nhất đất nước vì phải đối phó với khó khăn nội bộ và thiếu ủng hộ của quốc tế. Đồng minh chính của họ lúc này là Trung Quốc. Trong hoàn cảnh này, Hà Nội không thể hy vọng xác lập quyền kiểm soát đối với Hoàng Sa và Trường Sa trong tương lai gần, và vì vậy họ không thể có sự bất đồng lớn với Trung Quốc về các hòn đảo. Lúc này, chính phủ Bắc Việt tìm cách có được giúp đỡ của Trung Quốc, và họ chỉ cố gắng tránh đưa ra tuyên bố công khai ủng hộ những tuyên bố chủ quyền cụ thể của Trung Quốc hay ký vào một văn kiện bắt buộc mà sẽ công khai từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo này.

Sang năm 1974, tình hình hoàn toàn khác. Việc thống nhất Việt Nam không còn là khả năng xa vời. Giả sử Trung Quốc có không can thiệp, Hà Nội có thể dễ dàng lấy các đảo cùng với phần còn lại của miền Nam. Từ 1968 đến 1974, quan hệ Việt - Trung đã xuống rất thấp, trong khi Liên Xô tăng cường ủng hộ cho miền Bắc. Trong tình hình đó, quan điểm của Bắc Việt dĩ nhiên trở nên cứng cỏi hơn trước Trung Quốc so với thập niên 1950.

Vì những lý do tương tự, thái độ của Trung Quốc cũng trở nên cứng rắn hơn. Đến năm 1974, Bắc Kinh không còn hy vọng Hà Nội sẽ theo họ để chống Moscow. Thực sự vào cuối 1973 và đầu 1974, Liên Xô lại cảm thấy sự hòa hoãn Mỹ - Trung đã không đem lại kết quả như người ta nghĩ. Washington không từ bỏ quan hệ ngoại giao với Đài Loan cũng không bỏ đi ý định tìm kiếm hòa hoãn với Liên Xô. Ngược lại, quan hệ Xô - Mỹ lại tiến triển tốt. Vì thế trong năm 1974, lãnh đạo Trung Quốc lại một lần nữa cảm thấy bị bao vây. Vì vậy họ muốn cải thiện vị trí chiến lược ở Đông Nam Á bằng hành động chiếm Hoàng Sa, và tăng cường ủng hộ cho Khmer Đỏ và du kích cộng sản ở Miến Điện.

BBC:Theo nhận định của ông, lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được viết trong hoàn cảnh nào?

 Chính phủ nước Việt Nam DCCH ghi nhận và tán thành tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Hoa. Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Hoa trong mối quan hệ với nước CHND Trung Hoa trên mặt biển
 
Nội dung lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 14.9.1958 gửi Tổng lý Quốc vụ viện Chu Ân Lai

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng Chín 1958.

Như tôi nói ở trên, trong những năm này, Bắc Việt không thể làm phật ý Trung Quốc. Liên Xô không cung cấp đủ hỗ trợ cho công cuộc thống nhất, trong khi Ngô Đình Diệm ở miền Nam và chính phủ Mỹ không sẵn sàng đồng ý tổ chức bầu cử như đã ghi trong Hiệp định Geneva. Phạm Văn Đồng vì thế cảm thấy cần ngả theo Trung Quốc.

Dẫu vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này.

Dù sao trong tranh chấp lãnh thổ song phương này giữa các quyền lợi của Việt Nam và Trung Quốc, quan điểm của Bắc Việt, theo nghĩa ngoại giao hơn là pháp lý, gần với quan điểm của Trung Quốc hơn là với quan điểm của miền Nam Việt Nam.

BBC: Ngoài ra người ta còn nghe nói đến một tuyên bố tán thành với Trung Quốc của Ung Văn Khiêm, đưa ra năm 1956 khi ông này là Thứ trưởng Ngoại giao của Bắc Việt. Phía Trung Quốc đã công khai viện dẫn đến tuyên bố này. Nó có giúp ta hiểu thêm về lá thư của ông Phạm Văn Đồng?

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Theo trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, vào giữa năm 1956, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của Trung Quốc rằng Hoàng Sa và Trường Sa về mặt lịch sử đã thuộc về lãnh thổ Trung Quốc. Ban đầu tôi nghi ngờ sự chân thực của tuyên bố này. Năm 2004, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thậm chí xóa đi những chương tranh cãi của lịch sử Triều Tiên khỏi trang web của họ. Tức là họ sẵn sàng thay đổi quá khứ lịch sử để phục vụ cho mình.

Tôi cũng chấp nhận lý lẽ rằng nếu ông Khiêm quả thực đã nói như vậy, thì có nghĩa rằng ban lãnh đạo Bắc Việt thực sự có ý định từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nay tôi nghĩ khác, mà một lý do là vì tôi xem lại các thỏa thuận biên giới của Mông Cổ với Liên Xô.
 
Tôi nhận ra rằng tuyên bố của Ung Văn Khiêm thực ra không có tác dụng ràng buộc. Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố của một quan chức như ông Khiêm được coi như đại diện cho quan điểm chính thức của ban lãnh đạo. Nhưng ban lãnh đạo cũng có thể bỏ qua ông ta và những tuyên bố của ông ta bằng việc sa thải theo những lý do có vẻ chả liên quan gì. Đó là số phận của Ngoại trưởng Mông Cổ Sodnomyn Averzed năm 1958. Trong lúc đàm phán về biên giới Liên Xô – Mông Cổ, ông ta có quan điểm khá cứng rắn, và rất có thể là vì ông ta làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo. Nhưng khi Liên Xô không chịu nhả lại phần lãnh thổ mà Mông Cổ đòi, và chỉ trích “thái độ dân tộc chủ nghĩa” của Averzed, Mông Cổ cách chức ông ta.
Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai là người nhận thư của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng năm 1958

Trong trường hợp Ung Văn Khiêm, ông ta khi ấy chỉ là thứ trưởng, và chỉ có một tuyên bố miệng trong lúc nói riêng với đại biện lâm thời của Trung Quốc. Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố miệng không có cùng sức mạnh như một thông cáo viết sẵn đề cập đến các vấn đề lãnh thổ. Nó cũng không có sức nặng như một tuyên bố miệng của lãnh đạo cao cấp như thủ tướng, nguyên thủ quốc gia hay tổng bí thư. Rõ ràng các lãnh đạo Bắc Việt không ký hay nói ra một thỏa thuận nào như vậy, vì nếu không thì Trung Quốc đã công bố rồi.
 
BBC:Theo ông, lá thư của Phạm Văn Đồng có ý nghĩa pháp lý nào không? 

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Nó khiến cho quan điểm của Việt Nam bị yếu đi một chút, nhưng tôi cho rằng nó không có sức nặng ràng buộc. Theo tôi, việc các tuyên bố của Trung Quốc nhấn mạnh nguyên tắc “im lặng là đồng ý” không có mấy sức nặng. Chính phủ miền Nam Việt Nam đã công khai phản đối các tuyên bố của Trung Quốc và cố gắng giữ các đảo, nhưng họ không ngăn được Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trung Quốc đơn giản bỏ mặc sự phản đối của Sài Gòn. Nếu Hà Nội có phản đối lúc đó, kết quả cũng sẽ vậy thôi.
 
BBC:Ngày nay, người ta có thể làm gì với lá thư của ông Đồng? Trong một giai đoạn dài, ở Việt Nam chỉ là sự im lặng. Ông nghĩ liệu người Việt Nam bây giờ có thể công khai tranh luận về nó mà không sợ là điều này chỉ có lợi cho Trung Quốc?  

Theo tôi, do lá thư của Phạm Văn Đồng chỉ có giá trị pháp lý hạn chế, nên một sự thảo luận công khai về vấn đề sẽ không có hại cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng dĩ nhiên chính phủ hai nước có thể nhìn vấn đề này theo một cách khác. 

Tiến sĩ Balazs Szalontai từng dạy ở Đại học Khoa học Công nghệ Mông Cổ và hiện là một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary. Ông là tác giả cuốn sách Kim Nhật Thành trong thời kỳ Khruschev (Đại học Stanford và Trung tâm Woodrow Wilson xuất bản, 2006)


Patroit Sai Gon
Bạn Tuấn Anh nói chuyện buồn cười! Tự thống nhất là khi nào! Cứ nhìn Triều Tiên đi sẽ thấy! Nam Hàn kinh tế-xã hội-chính trị...gấp nhiều lần Bắc Hàn cũng đâu thống nhất được đất nước khi còn Trung Quốc Cộng Sản hùng mạnh "bảo kê" đằng sau và một triệu quân Bắc Hàn bị nhồi sọ sẵn sàng sống chết vì Kim chủ tịch??? Các bác đừng suy nghĩ ấu trĩ-đơn giản! Nhiều chuyện xảy ra không dựa vào cái lý đâu, mà dựa vào cái mạnh. Cứ nhìn Hoàng Sa bị mất đó sẽ thấy. Cần gì bằng chứng lịch sử-cha ông chiếm giữ, anh có ngon thì tới đâu đấu với tôi. Thắng thì cho lấy lại đảo. Thế đấy!

Nhưng tôi cũng đồng ý là cuộc chiến 1954-1975 có ba tính chất (nhiều người nói rồi chỉ nhắc lại): 1) Vừa là cuộc chiến chống sự can thiệp của Mỹ-thống nhất đất nước của miền bắc 2) Vừa có tính chất của một cuộc nội chiến giữa hai chính quyền (về tính chính thống -hợp pháp thì vở kịch bỏ phiếu giả tạo của Mỹ-Diệm có khác gì cuộc bỏ phiếu hiện nay của Đảng?) 3)cuộc chiến ý thức hệ Cộng Sản-Tư Bản. CNCS "khuyến mãi" cho dân tộc thêm một cuộc chiến nữa mà các dân tộc bị nô dịch khác không phải gánh chịu, trừ Triều tiên-cũng một nước có một miền theo CS như VN.

Tuan Anh, Hà Nội
Để xảy ra cuộc chiến tranh Nam-Bắc , huynh đệ tương tàn là sai lầm của cả lãnh đạo hai miền. Đúng như lời Mr Quang nói "Đây là cuộc chiến ý thức hệ giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tự do". Là cuộc chiến giữa các nước lớn với nhau và Việt nam là chiến trường. Nếu như Ngô Đình Diệm đồng ý hiệp thương tổ chức bầu cử thì đâu đến nỗi xảy ra chiến tranh, và các nhà lãnh đạo Bắc Việt không nên theo lời của Liên xô & Trung quốc xúi giục kháng chiến thì chẳng đến nỗi. Miền Bắc phát triển theo XHCN & miền nam theo TBCN, sau này miền nào nền kinh tế mạnh thì thế hệ mai sao sẽ nhìn nhận ra và tự thống nhất không tốn một giọt máu.

Quang
Về thực chất cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc VN không phải là cuộc chiến dành độc lập hay giải phóng dân tộc, mà là cuộc chiến ý thức hệ giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tự do. Miền Bắc tiến hành cuộc chiến tranh là theo ý của Liên Xô và Trung Quốc muốn bành trướng chủ nghĩa CS dưới chiêu bài giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, điều này quá rõ ràng ai cũng biết từ lâu. Chỉ có những cái đầu quá ư tăm tối mới tin tưởng đây là cuộc chiến tranh dân tộc chống đế quốc và tay sai.

Nguyễn Hoàng Việt, Hà Nội
Phiếm luận! Lâu nay thiên hạ vẫn nghe (theo BBC) đồn rằng bức thư của Ông Pham Văn Đồng gửi Trung Cộng theo đó công nhận Hoàng Sa và và Trường Sa là của Trung Quốc. Nay lại chính BBC công bố thì có lẽ ko phải vậy. Nước nhỏ núp bóng nước lớn là chuyện xưa nay vẫn! nên khi nguyên văn thư Ông Đồng được đăng tải thì ko như thiên hạ đồn ....có chăng do người đời "thêu dệt".

Như lý của kẻ mạnh " mặt trời ko bao giờ lặn trên nước Anh " thì thiên hạ là của người Anh cả. Rủi thay vận đổi sao rời nên cái thuộc địa nhỏ nhoi như Mỹ Quốc mới có ngày hôm nay. Thư Ông Đồng xét ra có cái khôn ngoan của kẻ yếu thế. Có kẻ chụp mũ bảo Cộng sản Việt nam bán mình cho Trung Cộng nghe thật nực cười vì nếu bán thì đã không chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 và 1986. Cộng sản hay không cộng sản cũng là người Việt mà đã phàm là con cháu Vua Hùng không ai lại dại gì mà đêm dâng Xã tắc tổ tiên truyền lại cho ngoại bang. Cho nên cái chuyện phiếm : mấy ông nói thời gian qua đổ tại Ông Phạm Văn Đồng dâng đất cho TQ là "Ếch ngồi trong nồi" vu oan cho Người ta. Kẻ sỹ nói như thế là "ngậm máu phun người"!

Le huy hoang, Montreal, Canada
Trên phương diện ngoại giao và đàm phán quốc tế những văn kiện chính thức giữa hai chính phủ như bức thư của Phạm văn Đồng quan trọng lắm. Tôi sợ rằng chính quyền VN hiện nay không đủ bằng chứng để chứng minh đó là một văn kiện bắt buộc trong bối cảnh thập niên 1950 giữa Nga, Trung Hoa và VN.

Đặng Văn Hoa, Houston, Hoa Kỳ
Năm 1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng công bố xác nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đến năm 2000, khi có tin Việt Nam ký kết hiệp ước về biên giới với Trung quốc, thì ở hải ngoại nổi lên phong trào rủa xả Phạm Văn Đồng đã ký công hàm ngày 14-9-1958, dâng đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung quốc để lấy viện trợ khí giới...Tôi cố gắng đi tìm cái Công hàm, ông Phạm Văn Đồng ký dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung quốc và không làm sao sao tìm thấy được, xin cũng chẳng ai có. Sau đó tôi tìm được bức thư của ông Phạm Văn Đồng gửi cho ông Tổng lý Chu Ân Lai “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc” ký ngày 14-9-1958. Trong bức thư đó không có chữ nào là dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung quốc cả. Thưa quý vị, trong 12 hải lý làm gì có Hoàng Sa và Trường Sa ở trong đó mà quý vị lớn lối rủa xả.

Năm 1973, phái đoàn Việt Nam và Nhật Bản đi sưu khảo Hoàng tới quần đảo Hoàng Sa thì đã thấy cờ Trung quốc ở nhiều đảo rồi nên không vào được, chỉ còn vài đảo có quân Việt Nam thôi. Tin tức này VNCH im thin thít không công bố. Đến 19-1-1974 thì Trung quốc chiếm hết.

Lãnh đạo VNCH chẳng có kế hoạch phòng thủ, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa gì cả, vì đến phương tiện phi cơ cũng không có phối hợp với bên Không quân bảo vệ bầu trời hải đảo có không, cũng không biết.. Nói theo giọng điệu chống Cộng ở hải ngoại thì Việt Nam Cộng Hòa đã dâng đảo Hoàng Sa cho Trung quốc. Nói như vậy có sai không? Ông Thiệu biết Hải quân Việt Nam không đủ sức đương đầu với hải quân Trung Cộng và hạm đội 7 Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nhưng ông vẫn ra lệnh tác chiến như một chứng liệu về chủ quyền lãnh thổ sau này...Đánh để cho Trung Cộng chiếm, đặt Cộng sản Hà Nội chuyện đã rồi. Thế có nghĩa là cho Trung Cộng chiếm còn hơn để Cộng sản Hà Nội cai trị, không ăn thì đạp đổ - Ai dâng đất cho Trung Cộng đây - Việt Nam Cộng Hòa chứ còn ai nữa.

Mai, Florida, Hoa Kỳ
Chuyện pháp lý của lá thư thì thuộc giới am hiểu luật pháp tranh cãi. Còn chuyện tình cảm thì rõ ràng VNDCCH chấp nhận mất HS-TS để đổi lấy viện trợ tấn công miền Nam theo kiểu bỏ con tép để câu con tôm. Sự thất bại hải chiến của VNCH để bảo vệ HS với Trung cộng mà VNDCCH vẫn im hơi lặng tiếng cho biết việc chiếm được miền Nam quan trọng hơn là mất đất! Có nghĩa là quyết giành đất của anh em và chấp nhận mất đất của cha mẹ để lại cho hàng xóm. Phải chăng đây là chỉ dấu của tính "vô tổ quốc" của CNCS?

 
 
Diễn đàn BBC
Họ tên
Nơi gửi đi
Điện thư
Điện thoại (tùy ý)*
* không bắt buộc
Ý kiến (350 từ)
 
  
BBC có thể biên tập lại thư mà vẫn giữ đúng nội dung ý kiến và không bảo đảm đăng mọi thư gửi về.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Kỷ niệm hải chiến Hoàng Sa
20 Tháng 1, 2008 | Diễn đàn
Phi cơ quân sự Đài Loan ra Trường Sa
24 Tháng 1, 2008 | Thế giới
Tại sao chống đối?
09 Tháng 1, 2008 | Diễn đàn
Ngư dân VN 'không cướp tàu TQ'
17 Tháng 1, 2008 | Việt Nam
VN trong chủ thuyết dân chủ của Bush
24 Tháng 3, 2005 | Thế giới
Kế hoạch biểu tình chống TQ ngày 19-1
16 Tháng 1, 2008 | Việt Nam
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn   Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân