
Ông Joseph Cheng là giáo sư chính trị học ở City University of Hong Kong
Trong vòng 10 năm, từ khi Hồ Chí Minh qua đời tháng Chín 1969 đến cuộc chiến hạn chế dọc biên giới Việt - Trung tháng Hai-Ba 1979, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã chứng kiến thay đổi lớn: từ "đồng chí và anh em" thành "kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất ".
Trong suốt thập niên 1970, ban lãnh đạo Trung Quốc theo đuổi đường lối đối ngoại ngày càng thực tiễn, đến gần hơn với Mỹ để ngăn chặn đe dọa từ Liên Xô. Thực tế, cuối thập niên 1970 và đầu 1980 là giai đoạn "liên minh không chính thức" giữa Trung Quốc và Mỹ. Kể từ giữa thập niên 1970, Trung Quốc cũng bắt đầu giảm bớt viện trợ nước ngoài.
Kẻ thù
Trong mắt Hà Nội, cuộc đối đầu Xô - Trung có vẻ là tất yếu, và trước liên minh Trung - Mỹ, Hà Nội thấy không còn lý gì để tiếp tục "khối đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa". Nước này quyết định ủng hộ Liên Xô, vì nó tương hợp hơn với quyền lợi chiến lược và kinh tế của họ.
Những điều chỉnh chiến lược của cả hai bên đã để lộ và làm sâu sắc thêm những khác biệt, kể cả xung đột biên giới, lãnh thổ trên biển và trên bộ, Hoa kiều, vân vân. Những xung khắc này liên quan nhiều hơn tới quyền lợi quốc gia chứ không phải vấn đề ý thức hệ.
Quan hệ Việt - Trung xấu đi trùng khớp với giai đoạn cô lập ngoại giao và trắc trở kinh tế cho Việt Nam. Trong lúc đó, Trung Quốc bắt đầu cải tổ kinh tế và mở cửa ra thế giới vào cuối tháng 12.1978, không lâu trước cuộc chiến biên giới Việt - Trung. Nhưng đến Đại hội Sáu tháng 12.1986, Việt Nam cũng bắt đầu đi trên con đường cải cách kinh tế. Giống như Trung Quốc, tập trung phát triển kinh tế đòi hỏi môi trường quốc tế hòa bình, và Hà Nội sau đó chủ động cải thiện quan hệ với Trung Quốc.
Đột phát diễn ra vào tháng Chín 1990 khi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng bí mật thăm Trung Quốc. Sau khi có thỏa thuận hòa bình Paris về Campuchia tháng 11.1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt chính thức thăm Trung Quốc và hai nước bình thường hóa quan hệ.
Bằng hữu
Sau biến cố Thiên An Môn, Trung Quốc chịu sức ép từ trừng phạt của phương Tây. Các lãnh đạo nước này nhiệt tình hơn quanh việc ổn định quan hệ với các láng giềng và cải thiện môi trường khu vực. Chuyến Nam du của Đặng Tiểu Bình đầu năm 1992 tái xác nhận quyết tâm cải tổ kinh tế và mở cửa.
Việt Nam nhận ra một "Liên bang Đông Dương" không còn là quyền lợi thiết thân của họ. Họ muốn thoát ra khỏi hố mìn Campuchia để phát triển kinh tế và cải thiện quan hệ với Asean (gia nhập năm 1995) và Trung Quốc.
Vào cuối thập niên 1980 và đầu 1990, những thay đổi ở Đông Âu và việc Liên Xô sụp đổ đẩy phong trào xã hội chủ nghĩa quốc tế vào điểm thấp nhất. Cả Trung Quốc và Việt Nam cảm nhận sức ép của "diễn biến hòa bình". Họ cũng chia sẻ chính sách duy trì môi trường quốc tế hòa bình để tập trung phát triển kinh tế, vốn là nền tảng cho tính chính danh của hai đảng Cộng sản.
Trong thập niên 1990, quan hệ Việt - Trung cải thiện đáng kể. Hai bên đạt được tiến bộ trong tranh chấp lãnh thổ. Tháng Bảy 1997, Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Trung Quốc, đồng ý thời gian biểu cho việc phân định biên giới đất liền và đường biên ở Vịnh Bắc Bộ. Năm 1999, hai bên ký hiệp định biên giới trên bộ và năm 2000, hai nước ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác Nghề cá. Tranh chấp về Hoàng Sa và Trường Sa thì còn tồn đọng đến bây giờ.
Nỗ lực chiến lược

Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội ngày 16.12.2007
Vì Trung Quốc đi trước Việt Nam trong cải tổ kinh tế, có một hiệu ứng mạnh cho Việt Nam, nhưng khoảng cách đang giảm nhanh. Cả hai chính thể không định từ bỏ độc quyền quyền lực, và cả hai đều mắc phải vấn nạn tham nhũng. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam mạnh dạn hơn khá nhiều trong cải tổ chính trị trong mấy năm gần đây. Đã có gợi ý rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể học từ kinh nghiệm Việt Nam, nhưng chưa có phản ứng chính thức.
Lãnh đạo hai nước vẫn đặt nhiều tham vọng và lạc quan trong hợp tác kinh tế và thương mại. Ban đầu hai bên dự đoán thương mại song phương vượt qua mức 10 tỉ đôla vào năm 2012, nhưng chỉ đến năm 2007, nó đã đạt 15.1 tỉ đôla.
Hai chính phủ cũng đồng ý xúc tiến chương trình "hai hành lang, một vài đai", tức là hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hành lang Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và vành đai Vịnh Bắc Bộ. Về lâu dài, chương trình không chỉ thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa nam Trung Quốc và bắc Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Trung Quốc và Asean.
Nhìn rộng hơn, tuyến đường sắt và xa lộ nối Nam Ninh với Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái, Miến Điện, Malaysia và Singapore sẽ có tầm quan trọng chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng ở miền tây nam kém phát triển của Trung Quốc và các thành viên kém giàu hơn trong Asean.
Trung Quốc cũng cấp hơn 100 học bổng hàng năm cho sinh viên Việt Nam, và số lượng sinh viên Việt Nam ở Trung Quốc hiện đứng thứ tư, sau Nam Hàn, Nhật và Mỹ.
Vấn đề tồn đọng vẫn liên quan tranh chấp lãnh thổ. Những va chạm nhỏ ở Trường sa thỉnh thoảng vẫn diễn ra mấy năm qua. Khủng hoảng năng lượng toàn cầu và giá dầu tăng đã góp vào căng thẳng vì cả hai nước đẩy mạnh hoạt động thăm dò và nhượng bộ cho các công ty dầu hỏa nước ngoài trong các đặc khu kinh tế tranh chấp. Gần đây có một số vụ biểu tình lớn chống Trung Quốc ở Việt Nam. Khó biết chắc liệu có phải giới chức Việt Nam huy động mà thành, nhưng rõ ràng chúng đã được họ làm ngơ.
Tương tự quan hệ Nhật - Trung, vấn đề lịch sử có thể khơi dậy xúc cảm mạnh. Một số sách giáo khoa lịch sử Việt Nam nói về "xâm lược từ phương bắc". Hàng năm có những hoạt động ở Việt Nam ca tụng "những anh hùng dân tộc" chống xâm lược Trung Quốc cùng những chiến thắng trước Trung Quốc. Những hoạt động này thường không được báo chí Trung Quốc đề cập. Nhưng các chuyên gia Trung Quốc về Việt Nam khá lo ngại.
Lãnh đạo hai nước nỗ lực duy trì môi trường hòa bình quốc tế và thân thiện với doanh nghiệp để tập trung phát triển kinh tế. Đình đốn kinh tế có lẽ được cả hai chính thể xem là đe dọa lớn. Vì thế hai chính phủ muốn kiềm chế căng thẳng trong quan hệ song phương.
Nhưng họ phải nỗ lực hơn nữa trong mở rộng quan hệ kinh tế để giảm bớt sự nghi ngờ lẫn nhau, cũng như để thúc đẩy quyền lợi chung và niềm tin tưởng. Không thể để chủ nghĩa dân tộc gia tăng ở cả hai bên đường biên giới gây ra rạn nứt và tạo ra ấn tượng đe dọa.
Trước sự tương hợp của hai nền kinh tế và ưu tiên của hai đảng Cộng sản, người ta có lý do để lạc quan trong tương lai trước mắt.













