|
Trí thức - những giới hạn và đòi hỏi | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Ngày nay người ta hay nói đến “Nền kinh tế tri thức” mà theo quan niệm của mọi người thì đó là một nền kinh tế trong đó mọi sản phẩm sản xuất ra đều mang hàm lượng tri thức cao, một nền kinh tế mà trong đó được điều hành bởi quan chức các cấp được đào tạo bài bản (là những trí thức có thực tài), đáp ứng được đòi hỏi của công việc và biết hoạch định chính sách lâu dài cho đất nước. Về mặt nào đó nó khác với ‘duy ý chí’, một sự điều hành đất nước đã tồn tại hàng bao năm qua, một điểm yếu mà cho đến nay các nhà lãnh đạo của VN chưa đáp ứng được trong thời đại hội nhập. Vậy giới trí thức VN hiện nay như thế nào? Trong bài viết này tôi cũng xin phép mạn đàm về giới trí thức của Việt nam trong đó có bản thân tôi. Cách mạng Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, trong một vài thế kỷ gần đây thì Cách mạng Vô sản đã và đang làm tổn thương nặng nề nhất cho giới trí thức ở các nước mà nó đi qua (nhất là trong lĩnh vực triết học, văn hoá nghệ thuật). Ở hầu hết các nước có chế độ CS, bao nhiêu nhà văn, nhà thơ và các trí thức thuộc các lĩnh vực mà có tư tưởng tự do đều đã bị các chính quyền CS đàn áp một cách không thương tiếc, nhiều người bắt buộc phải chạy ra nước ngoài. Nhẹ hơn là bị “cải tạo”, không cho xuất bản hoặc là đình bản thu hồi tất cả các tác phẩm của họ.
Không những thế, các nhà văn nhà thơ, hoạ sỹ… nói riêng và giới trí thức nói chung còn luôn bị khống chế, kiểm soát gắt gaoủtong chế độ CS. Các ĐCS muốn rằng mọi sản phẩm của họ phải mang tính đảng, tính giai cấp. Tầng lớp trí thức buộc phải tránh không đề cập đến các vấn đề mang tính 'nhạy cảm' như dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận tự do báo chí… Các ĐCS muốn nhào nặn con người từ tuổi Nhi đồng đến Thanh thiếu niên rồi đến Trí thức trở thành như những cái máy giống nhau qua các tổ chức nối dài của mình như: Đội thiếu niên tiền phong, Đoàn thanh niên, Công đoàn, Mặt trận tổ quốc. Một trong những cố gắng đó của ĐCSVN mà một thời họ muốn xây dựng con người VN thành những người vô thần thánh, chỉ biết trung với Đảng, hiếu với dân... chỉ biết sẵn sàng nhận mệnh lệnh của ĐCS. Trí thức ở VN trước năm 1945 thường được nói đến nhiều là các nhà văn nhà thơ, họ cũng không tránh khỏi phiền luỵ như trí thức ở các nước CS hay các nước độc tài khác. các nhà văn nhà thơ từng vang tiếng một thời mà các tác phẩm của họ vẫn chiếm được sự ngưỡng mộ của công chúng đến tận ngày nay như: Nam Cao, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Tản Đà (mất sớm)… Kể từ sau năm 1945 thì tuyệt nhiên họ không để lại được tác phẩm nào có thể chiếm được cảm tình của người đọc, mặc dù sau thời điểm đó họ vẫn sáng tác. Ngoại trừ một số tác phẩm họ viết như thể theo đơn đặt hàng của các nhà quản lý văn hoá của CS. Độc giả VN trong và ngoài nước cũng được chứng kiến: Thời gian đã làm cái việc sàng lọc khách quan nhất để trả các tác phẩm của họ về với giá trị đích thực của nó. Lực lượng Trí thức VN ngày nay là lực lượng rất đông đảo, đã bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội. Nói đến trí thức là nói đến khả năng nhận thức tiên phong, rộng và mới trong mọi lĩnh vực, có thể nói là vượt ra ngoài giới hạn về địa lý, không gian và thời gian. Nhìn chung họ có khả năng nhận thức và đánh giá nhanh tình hình. Sẵn sàng thể hiện ngay ra bằng thái độ và lời nói nên họ nói thường được cho là “nói khó nghe”. Chúng ta có thể đưa ra rất nhiều các dẫn chứng, ví dụ để chứng minh rằng: Có những vấn đề mà trí thức đưa ra cách đây hàng chục năm nhưng đến nay các quan CS mới công nhận là đúng. Ngoại trừ một số trí thức làm việc thuần tuý theo chuyên môn mà bỏ ngoài suy nghĩ về các vấn đề chính trị, hoặc là thoả hiệp, chấp nhận hay gia nhập vào hệ thống chính trị độc đảng. Vì lẽ đó mà trong thời gian dài các quan CSVN thường nghi kỵ và xa lánh giới trí thức. Họ gán cho giới trí thức nói chung là “lập trường quan điểm không vững vàng”, “phát ngôn bừa bãi”, “tư tưởng tự do”, “tiểu tư sản” vv… và bao thứ ‘tội’ khác tuỳ theo các tình huống (nhưng không công khai hoá bằng văn bản). Cũng chính vì thế mà trí thức rất khó hoặc không muốn gia nhập vào hàng ngũ của ĐCS. Nhiều ĐVCS không giám giới thiệu hay bảo lãnh cho ông trí thức “ngang ngạnh” vào đảng. Cho dù biết chắc họ giỏi chuyên môn và linh hoạt giải quyết mọi vấn đề. Có thể nói rằng, trí thức giỏi thì luôn đồng nghĩa là có tư tưởng tự do dân chủ, tôn trọng lẽ phải. Do khả năng tự nhận thức cao, cộng với môi trường làm việc và nghiên cứu khoa học nên họ không cứng nhắc, giáo điều hay duy ý chí. Họ quen làm việc trong môi trường mà muốn đưa ra kết luận gì thì phải có cơ sở khoa học, có kiểm chứng, thống kê, dẫn chứng rõ ràng, đồng thời họ thường có mối liên hệ với các trí thức, các quan điểm khác nhau trên toàn thế giới. Theo tôi những trí thức chân chính không bao giờ ở thế ‘ếch ngồi đáy giếng’. Tại VN, lực lượng trí thức không phát huy được những đặc điểm và lợi thế của mình do luôn bị cả một hệ thống chính trị khống chế kiểm soát mà thôi. Trí thức giỏi VN luôn phải đối mặt với người lãnh đạo của mình là những kẻ cơ hội bất tài nên rất dễ bất mãn và không còn động cơ phấn đấu trừ khi họ cũng phải thoả hiệp: Nói và làm không theo như mình nghĩ. Phân loại Phải sống trong một môi trường như vậy thì mới có thể thấy một số loại trí thức điển hình (sự phân loại này chỉ là tương đối):
Số trí thức có trình độ chuyên môn giỏi, có “lý lịch và đạo đức tốt”, đa số là con cháu các quan chức CS, họ có điều kiện ăn học rồi vị trí công tác thuận lợi. Chúng ta thấy rất đông trong số này làm ở các lĩnh vực ngoại giao, thương mại. Một số có trình độ chuyên môn cao và thực sự muốn làm việc trong lĩnh vực chuyên môn của mình, họ “không muốn” quan tâm đến chính trị. Được tạo điều kiện tốt về nguồn kinh phí, trang thiết bị nghiên cứu và làm ở các bộ phận quan trọng nên cũng có những công trình nào đó ứng dụng vào thực tế. Điển hình trong số này là làm trong lĩnh vực Ngoại giao, Quân sự, Quốc phòng, Viện nghiên cứu và ở một số trường Đại học lớn. Đời sống của họ được đảm bảo chắc chắn, thường xuyên được tuyên dương, lên chức. Lẽ tất nhiên khi họ có quyền lợi thì họ sẽ trở nên gắn chặt với hệ thống chính trị. Có thể họ đứng đầu hoặc ‘có ảnh hưởng’ trong các doanh nghiệp lớn (tư nhân hay Nhà nước). Một bộ phận trí thức cũng có trình độ chuyên môn giỏi nhưng có tư tưởng tự do, trực tính, có lòng tự trọng cao (không xu nịnh, nhờ vả phụ thuộc), nên được đánh giá là ngang ngạnh, hay gây phiền toái cho các quan CS, số này được các quan đánh giá là “có tài mà không có đức”, ở mức độ nhẹ hơn thì cho là “không khiêm tốn” và hiển nhiên là không có người đỡ đầu. Vì lý do đó mà số này ít được quan tâm của các quan chức CS. Do không có đất dụng võ nên thường chuyển qua làm các hợp đồng ngoài nên lại thêm cái tội là “các nhân chủ nghĩa”. Với bản tính tự do, tự lập cao nên họ rất chủ động với cuộc sống của mình. Khi đạt đến trình độ phát triển cao cả về lượng và chất thì họ cũng buộc phải thoả hiệp thì mới mong phát triển. Điển hình trong số này là một số giáo sư tiến sỹ giảng dạy ở các trường đại học. Một số vẫn có thể luôn mồm “chửi chế độ” hoặc trở nên thờ ơ ‘không quan tâm đến chính trị’. Bộ phận trí thức đông đảo nhất, làm việc trên nhiều lĩnh vực nhất thì đại đa số sống bình lặng không tranh chấp đấu đá với ai. Họ tần tảo làm công việc chuyên môn của mình mà không quan tâm đến tình hình chính trị, việc mình mình làm. Một ít trong số này cũng vào đảng, họ rất ít khi hoặc không hề bộc lộ quan điểm của mình, nếu có nói thì cũng chung chung không làm mếch lòng ai, “dĩ hoà vi quý”, tuân thủ làm theo sự lãnh đạo “sáng suốt” của Đảng. Một số “thức thời” và ngày càng “khôn ngoan” ra nên phát triển thành quan. Một ông bạn của tôi từng nói: “Quan tâm đến chính trị làm gì cho mệt, cuối cùng thì cũng mình làm mình ăn thôi mà…”. Họ gần như “điếc” khi các vấn nạn và bê bối của xã hội đang diễn ra hết năm này qua năm khác. Số trí thức làm trong các lĩnh vực nghệ thuật, truyền thông như các nhà văn, nhà thơ, Nhạc sỹ, Hoạ sỹ, sáng tác kịch bản sân khấu, Nhà báo… (mà tôi tin rằng họ không bao giờ ấu trĩ về chính trị, nghệ thuật). Do các lĩnh vực thuộc nghệ thật và truyền thông thường gây ảnh hưởng mạnh lên số đông dân chúng nên ĐCS luôn có sự kiểm soát gắt gao nhất. Hệ thống kiểm duyệt của ĐCS luôn săm soi nhằm phát hiện trước hoặc sau khi các tác phẩm ra đời xem có vi phạm tính Đảng, tính Giai cấp hay không. Nếu như hệ thống kiểm duyệt là để tránh các tác phẩm gây kích động hận thù, chia rẽ, vi phạm đạo đức ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục… thì lại là một nhẽ. Đằng này mọi có gắng của họ chỉ chăm chú đến những gì đe doạ đến sự lãnh đạo độc tôn của ĐCS. Các nghệ sỹ của VN được sáng tác trong một vùng “tự do” mà ĐCS vạch sẵn cho họ, cấm đả động đến nhân quyền, tự do dân chủ… Thử hỏi rằng một khi người ta bị cầm tù về tư tưởng và suy nghĩ thì có sáng tác được không? Hoặc cho dù họ có sáng tác thì các tác phẩm của họ có đến được với công chúng không? Nguồn nào nuôi sống họ để duy trì sáng tác? Điều này giải thích tại sao trong suốt từ năm 1945 đến nay không tìm thấy một tác phẩm nào có thể đọng lại trong lòng dân chúng. Tác phẩm gây thu hút nhiều nhất lại là cuốn nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm với lối viết chân thực, giản đơn mang tính tự sự. Một bộ phận trí thức có tư tưởng tự do dân chủ và không thoả hiệp, phản ứng tức thì với những sai trái trong xã hội. Số này dần dần bị đánh bật ra khỏi các cơ quan công quyền. Một số là luật sư nên vẫn có đất dụng võ, còn lại thì do bị o ép đủ bề nên không có cơ hội phát triển hoặc cùng lắm là làm ăn với quy mô nhỏ, họ cũng dần bị lãng quên trong xã hội hoặc phải tìm đường ra nước ngoài làm kiếp tha phương cầu thực. Một bộ phận trong số này đang đấu tranh đòi đa đảng đa nguyên, đòi tự do báo chí. Trí thức VN không có lấy bất cứ nơi nào để họ có thể cất lên tiếng nói chính thống của mình. Họ không có lấy một tờ báo cho đúng nghĩa của nó, ngoại trừ một số đặc san hay tạp chí chuyên ngành, nơi mà không được phép nói những gì mà ĐCS không muốn, hoặc phải tránh xa không được đụng đến các chủ đề “nhạy cảm”. Lịch sử VN cận đại thì có lẽ chỉ Hồ Chí Minh là biết sử dụng và khai thác trí thức một cách hiệu quả nhất. Chúng ta phải nhìn sự việc trong bối cảnh lúc đó mới thấy tài dùng người của ông. Ông đã quy tụ được các trí thức tinh hoa nhất thời bấy giờ. Đặc biệt là các vị trí mà ông chọn thì hầu như người nào cũng hoàn thành tốt công việc của mình, họ thật sự là những người có tài có đức. Còn thực tế thì trí thức VN trong một thời gian dài luôn bị xếp dưới thành phần khác trong xã hội. Họ bị cho là lập “tường tư tưởng không vững vàng” mặc dù ai cũng biết chính họ mới là lực lượng tinh hoa nhất của xã hội, là một trong những lực lượng yêu nước nhất, luôn trằn trọc suy nghĩ với thời cuộc. Phải chăng cái mà họ thiếu là sức mạnh của cơ bắp? Đại bộ phận trí thức của VN như bị lãng quên hoặc không được đặt đúng vị trí, không được đánh giá đúng khả năng và tiếng nói của họ không được coi trọng. Trí thức sẽ làm việc vô cùng hiệu quả nếu như họ được tin dùng. Ngược lại cũng có thể biến họ thành những kẻ nhu nhược và mất hết niềm tin và động cơ phấn đấu (tôi không nói đến những người đã và đang có sự thoả hiệp với chế độ độc đảng). Ngày nay với thời đại mà người ta đang hướng tới tự do và toàn cầu hoá, cho dù ĐCSVN có dùng mọi cách bưng bít, kìm hãm thì những tư tưởng tự do dân chủ cũng vẫn cứ đến với từng người dân. Người dân dần dần ý thức được quyền (làm người) và những đòi hỏi chính đáng của mình trong một xã hội dân chủ văn minh. Trí thức VN nói riêng và người dân VN nói chung không còn ở thế “ếch ngối đáy giếng” nữa. Nhưng một thực tế là trong thời gian dài trước đây và ngay cả hiện tại, trí thức VN không được sử dụng một cách có lợi nhất cho dân cho nước? Vậy cái gì đã và đang kìm hãm họ? ------------------------------------------------------ Duy Thương, Hà Nội Ông cần nhớ một chân lý : điều một sếp luôn luôn đúng, điều hai sếp không bao giờ sai, điều ba có gì thắc mắc xem lại hai điều trên, sự góp ý thẳng thắn chưa hẳn là đã tốt. Nếu ở doanh nghiệp thì có thể là tốt vì nó liên quan đến hiệu quả kinh tế nhưng trong cơ quan Nhà nước thì mọi cái không thể rõ ràng được, hơn nữa sếp là người chịu trách nhiệm chứ nhân viên thì chỉ giúp việc thôi, vì vậy đừng bầy tỏ quan điểm là gì chỉ thiệt thân thôi”. Nó ngẩn ra một hồi rồi gật gù: ừ đúng thật! Nó nhớ lại ngày chia tay khi ra trường, thầy giáo nó kể cho nghe một câu chuyện đại ý rằng: một lần Khổng Tử dẫn các học trò đi trên đường gặp một đoàn người đi đốn gỗ, nhưng ngay cửa rừng có một cây cổ thụ rất to mà họ không hề chú ý, cứ đi vào rừng. Thấy vậy Khổng Tử mới hỏi một người: “tại sao cây gỗ to và gần như vậy mà mọi người không đốn lại phải vào sâu trong rừng?” Người kia trả lời: “mộc tồn vô dụng”. Các học trò không hiểu hỏi lại thầy nghĩa là sao? Khổng Tử quay lại giảng cho học trò của mình: “đây là cây Đa, gỗ của nó không sử dụng được vào việc gì cả nên nó mới tồn tại đến bây giờ. Suy rộng ra đời người cũng vậy, muốn tồn tại được thì đôi khi cũng phải như cây Đa đó thôi!” Ôi ! Ban đầu nó cũng không hiểu thầy kể câu chuyện đó với nó làm gi? Giờ thì nó hiểu rồi! Bây giờ nó đã hiểu lời Thầy. “Không ai hiểu trò bằng Thầy”, câu nói đó nó cảm thấy đúng quá. Nó hy vọng rằng tuổi nó còn trẻ, vẫn còn kịp... Cảm ơn Thầy! Cảm ơn lời góp ý của người bạn chân thành! 8x Ở Liên Xô thì cũng nào có gì hay hơn, Lê nin khi lên nắm quyền, tuy ông không tỏ ra ác như Mao nhưng cũng đã ra lệnh cho những trí thức lớn nhất của phong kiến Nga nên cuốn gói ngay khỏi nước Nga nếu không muốn nhận đủ. Sau Lênin thì có thêm Stalin, thôi trí thức người Nga thảm khỏi phải nói. Thời Stalin nhiều nhà văn nhà thơ dũng cảm cấp tiến nếu không hót như lời đảng muốn nghe thì bị nhận đủ thứ trừng phạt, có khi bị làm thịt luôn và chính quyền bảo là họ tự tử, hay bị tai nạn. Ở VN thì nào có hơn gì, trí phú địa hào bị đánh tơi tả trong cải cách ruộng đất 1953-1956, kể cả những người trước đó theo cách mạng, đóng góp sức lực tiền của cho cách mạng. Các nhà văn lớn của VN trước 1945 sau đó có sáng tác được gì ra hồn đâu, vì họ không quen sáng tác theo phương pháp "hiện thực xã hội chủ nghĩa" tô vẽ tuyên truyền. Vụ Nhân văn giai phẩm, bao nhiêu trí thức bậc nhất VN bị đánh tơi tả, người đi tù, người sau khi ra tù thì điên điên dại dại, thú không ra thú, người chẳng ra người. Gần đây tôi có đọc một bài viết trên Việt Nam Net của nhà sử học Dương Trung Quốc nói về người đã đảm nhận ví trí trưởng ban tổ chức Lễ mít tinh độc lập 2 tháng 9 năm 1945 - ông Nguyễn Hữu Đang, sau đó là thứ trưởng Bộ Thanh Niên. Bài viết của ông Dương Trung Quốc là muốn cổ động cho thanh niên bọn tôi phải cống hiến xã thân này nọ. Tôi chắc những người đồng lứa không phải ai cũng biết về trường hợp ông Đang. Ông Dương Trung Quốc tuy là nhà sử học nhưng ông chẳng nói gì rõ ràng tới những gì mà ông Đang đã chịu đựng. Hơn 30 năm tù cho người trí thức đó. Tại sao những người cộng sản lại không ưa trí thức: - Một là những kẻ nắm quyền thường chả phải là trí tuệ cao siêu gì, hồng hơn chuyên là chủ yếu, bần cố nông mà ra. Cho nên họ không ưa những người có trí tuệ hơn họ cũng phải, phần do mặc cảm thhua kém nên ghét trí thức. - Thứ hai, các xã hội cộng sản như xã hội ta thì việc bao cấp tư tưởng cho nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của cơ quan tuyên truyền. Trí thức vốn có cái nhìn sâu hơn nên họ không bị dụ vào cái vòng đám đông quần chúng đó. Họ dùng ý kiến trực tiếp, hoặc qua tác phẩm thơ văn hội hoạ điêu khắc để nói lên nỗi lòng mình. Và họ bị xem là kẻ nổi loạn, không làm như ý đảng thì bị đảng nện cho. Một nước mà chính quyền luôn hạn chế, kiểm soát, kìm hãm kẻ có tri thức, để bịt mồm bịt miệng người ta thì chẳng bao giờ khá nổi đâu. Ý kiến của người tri thức tuy không có dao có súng có nhà tù như đảng, nhưng lại có tác dụng làm tỉnh ngộ những u mê của quần chúng, làm thay đổi quan niệm cổ hủ đã ăn sâu vào máu tuỷ của số đông và vì thế mà góp phần cải tạo xã hội, nâng cao dân trí. Nói đâu cho xa, cái hội nhà văn VN ngày ngày vẫn ăn lương của đảng và ăn lương rồi thì cũng phải làm việc cho đảng chứ. Kẻ nào không nghe thì không cho xuất bản sách. | CÁC BÀI LIÊN QUAN Những cơ hội bỏ lỡ và chặng đường phía trước28 Tháng 12, 2006 | Việt Nam | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||