Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
06 Tháng 6 2006 - Cập nhật 12h20 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
WTO và xã hội dân sự ở Việt Nam
 

 
 
Với Thỏa thuận song phương vừa đạt được, nước CHXHCN Việt Nam (VN) lần đầu tiên sẽ được Mỹ chính thức công nhận là một bạn hàng thương mại bình thường như hàng trăm nước bạn hàng bình thường khác của Mỹ.

VN từ nay không còn là một trong số rất ít các nước bị Mỹ đánh giá là không đáng có một quan hệ thương mại bình thường. VN đã được lấy khỏi ví trí ngoại lệ ’’đáng nghi ngờ’’ để bước vào giai đoạn khởi động cho qúa trình bình thường hóa một hệ thống kinh tế- xã hội- chính trị bất bình thường của mình, đưa nó trở về một xã hội dân sự bình thường.

Bình thường hóa quan hệ kinh tế- thương mại là bước tiếp theo gần như hiển nhiên sau bình thường hóa quan hệ chính trị- ngoại giao. Vì vậy, thỏa thuận song phương Mỹ-Việt mở cửa cho VN gia nhập WTO trước hết không xuất phát từ những đòi hỏi quyền lợi kinh tế của Mỹ, mà từ những nhu cầu và hy vọng về kinh tế của chính quyền VN. Ngoài ra, nó cũng đáp ứng mong mỏi của phần lớn dân chúng Mỹ muốn mở chương cuối cùng kết thúc vấn đề Việt nam của qúa khứ.

Tuy nhiên, WTO không phải là cây đũa thần kinh tế. Một mặt, nó mở ra những khả năng, cơ hội mới cho nền kinh tế Việt Nam. Nhưng phải nhấn mạnh rằng đây chỉ là những khả năng, cơ hội như cho bất cứ quốc gia bạn hàng thương mại bình thường khác trong tổ chức kinh tế quan trọng nhất hành tinh này. Mặt khác, nó sẽ tác động rất mạnh, nhanh và hiệu quả, làm bộc lộ- một cách không thể chối cãi được và rõ hơn trước rất nhiều- những bất lực thuộc về bản chất chế độ, những khiếm khuyết không thể vượt qua của hệ thống chính trị bất bình thường; sự yếu kém của bộ máy hành chính; sự ấu trĩ và tình trạng bất an không ổn định với những quyết định tùy tiện của hệ thống pháp luật; cũng như khả năng cạnh tranh kém cỏi của toàn bộ hệ thống kinh tế- xã hội- chính trị của chúng ta hiện nay. Đặc biệt khi hệ thống này phải đóng vai trò là một đơn vị cạnh tranh độc lập trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài giữa các quốc gia trên phạm vi toàn cầu trong khuôn khổ WTO.

Không ít quan chức VN cho rằng WTO là một tổ chức thay thế GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) và vì thế tưởng rằng cũng như trước kia, dù là thành viên WTO, Việt nam vẫn có thể không cần nghiêm chỉnh thực thi các qui định của nó. Ngược lại, WTO là một định chế quốc tế theo công pháp quốc tế (do đó việc gia nhập phải được các nước thành viên phê chuẩn) và là một tổ chức bao trùm các tổ chức thương mại quốc tế có trước nó như : GATT, GATS (General Agreement on Trade in Services), TRIPs (Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights)...Với việc gia nhập WTO, các nước thành viên đương nhiên chấp nhận tuân thủ mọi qui định của những hiệp định thương mại quốc tế khác, song phương cũng như đa phương, chuyên ngành (chẳng hạn TRIPs) hay tổng quát- chẳng hạn hiệp định GATT; đồng thời cũng chấp nhận quyền chế định, quyền can thiệp vào các chính sách thương mại quốc gia của WTO. (Xem thêm: ’’Marrakesh Declaration of 15 April 1994’’, in: GATT Secretariat 1994)

WTO ra đời chính là nhằm giải quyết một trong những vấn đề khúc mắc nhất của rất nhiều hiệp định quốc tế: không cưỡng bức được việc thực hiện các cam kết. Chẳng hạn: Theo qui định của GATT, các nước công nghiệp phát triển (CNPT) có trách nhiệm tạo mọi điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển (ĐPT), như giúp đỡ về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; hủy bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp bảo hộ mậu dịch đối với sản phẩm nhập khẩu từ các nước ĐPT... Ngược lại các nước ĐPT có trách nhiệm từng bước tự do hóa thị trường. Trong qúa khứ, nhiều nước ĐPT luôn yêu cầu được hưởng ưu đãi từ các nước CNPT, trong khi vẫn khống chế chặt chẽ thị trường trong nước và bảo hộ mạnh mẽ các công ty quốc doanh. Mặc dù vậy, họ vẫn không thể bị trừng phạt. Vì theo nguyên tắc nhất trí của GATT, một biện pháp trừng phạt chỉ được thực hiện khi 100% các nước thành viên (trong các ủy ban có thẩm quyền) chấp thuận. Dĩ nhiên nước vi phạm sẽ luôn luôn bỏ phiếu chống.

Chính nguyên tắc nhất trí này là một trong những nguyên nhân căn bản khiến dư luận đánh giá GATT chỉ là một con "hổ giấy", không có khả năng đảm bảo thực hiện một trật tự thương mại thế giới theo kinh tế thị trường tự do, không phân biệt đối xử. (Xem thêm: Thurow Lester, Head to Head: The Coming Economic Battle Among Japan, Europe, and America, New York 1992). Do không có một cơ chế cưỡng bức thực thi có hiệu qủa, vai trò của các tổ chức thương mại quốc tế thấp đến nỗi trong suốt 50 năm trước WTO chỉ có 300 vụ tranh chấp thương mại quốc tế. Trái lại, chỉ trong vòng ba năm đầu đi vào hoạt động, WTO đã giải quyết thành công 100 vụ tranh chấp quốc tế.

WTO đề ra một cơ chế giải quyết tranh chấp ngược hẳn với nguyên tắc của GATT. Theo đó, quyết định trừng phạt hay trả đũa nước vi phạm hiệp định chỉ có thể bị bác bỏ theo nguyên tắc nhất trí. Nước bị thiệt hại có quyền thực hiện các biện pháp bảo hộ mậu dịch chống nước vi phạm không những trong lĩnh vực tương ứng, mà còn có thể mở rộng ra các lĩnh vực khác, cho đến khi nước vi phạm hiệp định chấm dứt vi phạm. Như vậy, sự vi phạm hiệp định trong thực tế sẽ dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn hơn nhiều so với việc tuân thủ hiệp định. WTO có toàn quyền quyết định các biện pháp cưỡng bức thực thi những thỏa thuận chung.

Thay đổi hệ thống kinh tế-chính trị

Một trong những nguyên tắc căn bản của WTO là hệ thống luật pháp của các nước thành viên phải phù hợp với những nguyên tắc của WTO. Ðiều này buộc VN phải có những thay đổi căn bản- thuộc về bản chất- đối với hệ thống luật pháp của mình.

Trước hết, những qui định của WTO là khung pháp lý bắt buộc cho các nước thành viên trong việc hoạch định chính sách thương mại của mình. Ðồng thời, khác với các tổ chức quốc tế tiền thân, WTO có một cơ chế cưỡng bức và kiểm tra thực hiện rất hiệu qủa, khiến chính phủ các nước thành viên không thể tùy tiện khi làm chính sách. Các ủy ban chuyên ngành của WTO thực hiện những chuyến thị sát định kỳ đến các nước thành viên, nhằm kiểm tra chính sách thương mại quốc gia có rõ ràng, minh bạch và phù hợp với những qui định của WTO hay không. Như vậy, những chính sách quốc gia trên cơ sở ý thức hệ tư tưởng, hoặc để phục vụ quyền lợi chính trị của đảng cầm quyền, sẽ bị thay thế dần bằng những chính sách vì lợi ích quốc gia và phù hợp với quyền lợi của cộng đồng quốc tế. Trong tiến trình này, vị trí tối cao của đảng cầm quyền, của chính phủ VN như hiện tại sẽ bị tương đối hóa dần để cuối cùng được đưa trở về vị trí đúng đắn của nó trong một nhà nước pháp quyền: bình đẳng như mọi thành viên xã hội khác trước pháp luật.

Là thành viên WTO, VN còn có trách nhiệm xây dựng, củng cố và hoàn thiện những nền tảng của một nhà nước pháp quyền, sao cho hệ thống luật pháp của VN và của các nước thành viên ngày càng phù hợp với nhau và không trói buộc các nguyên tắc của WTO. Nếu VN tỏ ra bất lực trong việc thực thi những qui định WTO, thì định chế quốc tế này sẽ áp dụng những biện pháp trừng phạt buộc VN phải hoàn thành trách nhiệm của mình.

Một nguyên tắc căn bản khác của WTO là cấm phân biệt đối xử. Các công ty nước ngoài phải được đối xử hoàn toàn bình đẳng như các công ty nội địa. Mặc dù mục đích của WTO là tự do hóa thị trường, nhưng các nước đang phát triển được hưởng một vị trí đặc biệt trong WTO. Trong nhiều lĩnh vực quan trọng, hoặc là họ được miễn giảm trách nhiệm tự do hóa thị trường, hoặc là được kéo dài thời hạn thực hiện. Vì vậy, trước mắt tuy VN chưa phải mở cửa hoàn toàn thị trường, nhưng vẫn có trách nhiệm không được gia tăng hay mở rộng các biện pháp bảo hộ mậu dịch hoặc các biện pháp trợ giá, trợ cấp sản xuất dẫn đến cạnh tranh bất bình đẳng. Như vậy, yêu cầu đầu tiên của WTO đối với VN là trách nhiệm bảo vệ, bảo đảm một môi trường tự do cho cạnh tranh lành mạnh.

Nhưng để hoàn thành trách nhiệm này thôi, VN cũng đã buộc phải có những thay đổi căn bản. Trước hết, nguyên tắc thượng tôn pháp luật phải nhanh chóng trở thành nguyên tắc cao nhất trong thực tế hoạt động định hướng và quản lý kinh tế của nhà nước. Hệ thống tòa án ở VN cũng phải được hoàn thiện với đầy đủ các cấp, các loại tòa án, kể cả tòa án hiến pháp với các nguyên tắc hoạt động phù hợp với tiêu chuẩn tối thiểu chung của WTO mà tấm gương là các nước Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản.

Như kinh nghiệm cho thấy, các biện pháp can thiệp của nhà nước nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực cụ thể, đáp ứng quyền lợi và phục vụ đường lối chính trị của đảng cầm quyền, luôn là nguyên nhân chính dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh. Vì vậy, ngoài hệ thống tòa án chuyên ngành kinh tế, phải có hệ thống tòa hành chính để phán quyết về hành động can thiệp của nhà nước. Và ở mức cao nhất, theo yêu cầu của công ty nước ngoài bị thiệt hại, phải có tòa án Hiến pháp để xem xét hành động can thiệp đó có phù hợp với hiến pháp VN và công ước quốc tế hay không.

Muốn phán quyết của tòa án VN đạt được tính chính danh theo các chuẩn mực quốc tế tối thiểu để nó có thể được các nước thành viên WTO bị thiệt hại chấp nhận và do đó không bị WTO áp dụng các biện pháp trừng phạt, VN phải bảo đảm được tính khách quan, công bằng, và độc lập của qúa trình xét xử, trong đó nhà nước hay chính phủ chỉ là một bên liên quan và vì vậy không được ảnh hưởng đến quyết định của tòa án. Các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật của chính phủ-một sự can thiệp thô bạo và lạm quyền của hành pháp vào sự độc lập cần thiết của lập pháp và tư pháp như hiện nay- sẽ phải bị bãi bỏ nhanh chóng. Sự độc lập của tòa án sẽ ngày càng được khẳng định.

Với việc phải chấp nhận và đưa vào thực hiện trong thực tế các nguyên tắc thượng tôn pháp luật; nguyên tắc bảo đảm sự hoàn chỉnh của hệ thống các tòa án và tính độc lập của tư pháp; cũng như bảo đảm quyền của các doanh nghiệp được kiện nhà nước, chính phủ trước tòa án, Việt nam - dù muốn hay không- cũng phải chấp nhận những nền tảng căn bản cho việc xây dựng một nhà nước pháp quyền dân chủ thực sự.

Về mặt kinh tế, với các nguyên tắc tối huệ quốc (Most favour Nation) và cấm phân biệt đối xử (National Treatment), WTO buộc VN phải cải thiện môi trường cạnh tranh tự do của nền kinh tế thị trường, ở đó các thành phần tham gia hoạt động kinh tế phải được bảo đảm có cơ hội bình đẳng để cạnh tranh lành mạnh. Điều đó có nghĩa là Việt nam không những phải nhanh chóng hạn chế, tiến tới chấm dứt hoàn toàn các hình thức trợ cấp của nhà nước cho doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là buộc phải cương quyết đoạn tuyệt với cương lĩnh chiến lược phát triển kinh tế lấy thành phần kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Cho đến khi VN thực sự chấm dứt trợ cấp kinh doanh cho các doanh nghiệp nhà nước (công khai hay che đậy dưới hình thức các cty cổ phần tư nhân) , vẫn còn lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, thì hàng hóa của VN vẫn còn sẽ bị kiện bán phá giá, bị kiện cạnh tranh không lành mạnh không những trên thị trường quốc tế mà còn ngay tại VN vì yếu tố phi thị trường trong cơ cấu giá thành. Chính là ở đây, VN phải chịu sức ép cải tổ cụ thể nhất, mạnh nhất.

Việc các cty nhà nước không được hưởng các ưu đãi đặc biệt, kinh tế nhà nước cũng bình đẳng như mọi thành phần kinh tế khác, cũng đồng nghĩa với việc tước đi đặc quyền, đặc lợi kinh tế của quan chức trong bộ máy đảng và chính quyền. Điều này góp phần không nhỏ trong qúa trình tản quyền thúc đẩy dân chủ hóa đất nước.

Thỏa thuận song phương Việt-Mỹ chấp nhận cho Việt nam có thời kỳ qúa độ 12 năm kinh tế phi thị trường, không phải là một thuận lợi hơn cho Việt nam nếu so sánh với 15 năm của Trung Quốc. Điều hiển nhiên là, nếu sau 12 năm đó Việt nam trong thực tế vẫn không hoàn thành các chuẩn mực của nền kinh tế thị trường thì chắc chắn cũng không được công nhận là có nền kinh tế thị trường. Chính thời hạn qúa độ 12 năm kinh tế phi thị trường là sức ép rất lớn về thời gian buộc VN phải có những kết qủa cải tổ cụ thể.

Cuối cùng-nhưng là điểm quan trọng nhất- các tiêu chuẩn tối thiểu mang tính bắt buộc của WTO về thị trường tự do, cạnh tranh, nhà nước pháp quyền dân chủ không còn cho phép VN thực hiện các “sáng tạo” mang danh XHCN của riêng mình nữa. Nhà nước pháp quyền dân chủ không thể là nhà nước theo ý thức hệ, không thể là nhà nước pháp quyền XHCN, không thể nằm dưới sự lãnh đạo tối cao của đảng nữa; sự độc lập cần thiết giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp không thể là sự phối hợp dưới sự lãnh đạo của đảng CS; các phán quyết của Tòa án độc lập trong một nhà nước pháp quyền không thể mở đầu bằng dòng chữ: “ Nhân danh nước CHXHCN Việt nam” nữa mà phải là “Nhân danh nhân dân” hoặc “Nhân danh công lý”; thị trường không thể là sân chơi ưu đãi của thành phần kinh tế chủ đạo mang danh nhà nước, mà là môi trường tự do cạnh tranh nơi các thành phần kinh tế bình đẳng với nhau dưới sự bảo vệ và điều chỉnh của luật cạnh tranh.

Mở cửa thị trường toàn cầu cho hàng Việt Nam?

Trong vài năm đầu, doanh số hàng xuất khẩu VN vào Mỹ sẽ tăng nhanh và đều đặn để đạt ngưỡng cạnh tranh tối thiểu. Sau đó sẽ chững lại. Hàng xuất khẩu VN (do các công ty VN sản xuất) hiện chỉ chiếm một thị phần không đáng kể tại Mỹ. Việc bỏ hạn ngạch dệt may, giảm thuế quan đến mức rất thấp khuyến khích hàng VN ào ạt tràn vào Mỹ,EU…, nhưng cũng đẩy mạnh tốc độ mở rộng thị phần hàng VN nhanh chóng đạt đến ngưỡng giới hạn, buộc cơ chế cạnh tranh tự do tại thị trường nước ngoài hoạt động. Khi đó, VN sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ nước ngoài không những ở Mỹ, EU v…v mà còn tại VN.

Hiện nay, hàng xuất khẩu chủ lực của VN (trừ dầu thô) là hàng dệt may, giày- da, và nông sản thực phẩm. Ða số các công ty sản xuất hàng may mặc cao cấp, đặc biệt là trong ngành sản xuất giày, da xuất khẩu, cũng như hàng nông sản thực phẩm chế biến cao cấp, đều là những công ty nước ngoài đầu tư 100% hoặc công ty liên doanh, trong đó chủ đầu tư nước ngoài giữ cổ phần với đa số quyết định. Ðây chính là những công ty hưởng lợi nhiều nhất ngay sau khi VN gia nhập WTO. Tuy nhiên, cũng dễ dàng thấy rằng, thu nhập thực tế cho kinh tế VN khi xuất khẩu mặt hàng của những công ty này- do nhiều lý do- sẽ không tăng nhanh một cách tỷ lệ thuận với doanh số.

Khi lượng hàng hóa từ VN đạt ngưõng cạnh tranh tại thị trường Mỹ, cũng là lúc các công ty quốc doanh và tư nhân VN phải đối đầu trực tiếp với các công ty tại Mỹ và nước ngoài hoạt động ở VN. Yếu tố chất lượng (cạnh đó là nhãn hiệu) lúc đó sẽ quyết định tất cả và VN sẽ phải lâm vào tình trạng bế tắc như một số nước đang phát triển hiện gặp: nhà đầu tư nước ngoài ào ạt đưa sản phẩm chất lượng cao hơn hẳn nhưng chưa hoàn chỉnh vào VN để gia công hoàn thiện nốt- một cách hình thức- và sau đó xuất sang Mỹ, EU.

Lao động Việt nam sẽ chỉ được tận dụng như sức lao động giản đơn, không cần trình độ đào tạo cao. Thu nhập thực tế của VN sẽ giảm, mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng, vì tỷ lệ đóng góp của VN trong giá thành sản phẩm và giá trị gia tăng thấp đi. Cũng cần lưu ý rằng, những mặt hàng xuất khẩu quan trọng trên của VN vẫn nằm trong số những mặt hàng mà Mỹ và thị trường EU có quyền thực hiện các biện pháp bảo hộ mậu dịch (áp thuế chống bán phá giá, áp dụng hạn ngạch, v…v.) trong suốt thời gian VN còn là nền kinh tế phi thị trường. Ngoài việc trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng VN, điều này còn giúp các công ty quốc tế gây sức ép, buộc doanh nghiệp VN phải tập trung vào việc gia công sản phẩm mang nhãn hiệu của họ nếu muốn tận dụng hết năng lực sản xuất, hơn là nghiên cứu mẫu mã, phát triển chiến lược sản xuất, tiếp thị riêng.

Mặc dù vậy, cơ hội phát triển ra thị trường quốc tế đối với VN sau khi gia nhập WTO vẫn là tốt nhất từ trước tới nay. Nhưng câu hỏi lớn ở đây là, liệu các doanh nghiệp VN có đủ khả năng tận dụng nó hay không? Có lẽ không nên quên rằng sau Trung Quốc thì chỉ có VN là thành viên WTO vẫn theo đuổi một nền kinh tế đặc biệt khác thường mang tên Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, một sự kết hợp tùy tiện giữa kinh tế kế hoạch và kinh tế thị trường tư bản rừng rú với hậu qủa là phát huy tối đa các yếu điểm của cả hai hệ thống. Do đó, hầu như toàn bộ kinh nghiệm, kiến thức và ý thức kinh doanh của doanh nghiệp VN hoạt động trong một nền kinh tế bất thường như vậy đều không thể giúp ích được gì cho họ khi cạnh tranh tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường hùng mạnh khác. Ngược lại, chúng sẽ là những yếu huyệt có thể hủy diệt họ một cách nhanh chóng.

Không những thế, bên cạnh việc phải đối phó với hàng tiêu dùng và nông sản thực phẩm Trung Quốc đang tràn ngập thị trường nội địa, VN bắt đầu phải đối phó với làn sóng nhập khẩu hàng dệt-da-may mặc của các nước như Ðài Loan, Nam Triều Tiên, Ấn Ðộ, Pakistan…

Như trên đã nói, dù doanh số của các doanh nghiệp VN tăng nhanh tại thị trường nước ngoài, nhưng lợi nhuận sẽ không tăng theo một cách tương ứng,thậm chí không tăng. Khả năng tái đầu tư, tích lũy vốn kinh doanh từ lợi nhuận sẽ giảm. Doanh nghiệp VN chỉ còn có thể trông cậy vào trợ giúp vốn của nhà nước, mà đặc biệt là từ hệ thống ngân hàng thương mại quốc gia nằm trong tay nhà nước, điều mà họ vốn quen làm. Nhưng từ nay, sự trợ giúp này lại là bất hợp pháp theo tiêu chuẩn WTO.

Vì vậy, WTO không phải là một đảm bảo tăng trưởng ổn định cho các ngành sản xuất hàng xuất khẩu truyền thống của VN hiện nay. Trái lại, tương lai của những ngành này trong môi trường cạnh tranh quốc tế sẽ càng trở nên bấp bênh hơn.

Tác động đến thị trường nội địa

Là thành viên WTO, Việt nam phải mở rộng cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài với các điều kiện dễ dàng như họ dành cho chúng ta. Trước hết, nông sản, thực phẩm từ các nước láng giềng hùng mạnh như Trung Quốc, Thái lan sẽ ồ ạt tràn vào VN. Hơn hẳn Việt nam về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm và được hướng dẫn bằng những chiến lược hỗ trợ quốc gia thống nhất, có bài bản và hợp lệ, các nhà kinh doanh nông sản thực phẩm nước ngoài sẽ không gặp khó khăn gì lớn để chiếm thị phần áp đảo tại VN.

Điều nghiêm trọng hơn là những nông sản thực phẩm này sẽ được hỗ trợ tiêu thụ mạnh mẽ nhờ các hệ thống phân phối-bán lẻ của các công ty xuyên quốc gia. Các công ty xuyên quốc gia trong lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối tại VN nhờ khả năng trực tiếp thu mua hàng giá rẻ nhất trên thị trường toàn cầu,điều mà chưa có một đại gia nào của VN làm được; nhờ vào vốn tài chính khổng lồ; nhờ công nghệ quản lý hiện đại và nhờ vào việc các đại gia của VN trong lĩnh vực này đã và sẽ còn phải phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của nhà nước. Một sự hỗ trợ trước đây mang lại cho họ lợi thế cạnh tranh, nhưng từ nay sẽ nhanh chóng làm họ phải đối mặt thường xuyên hơn với các vụ kiện cạnh tranh không lành mạnh.

Ở tầm cao hơn, các nhà đầu cơ tài chính sẽ rất chú ý đến Việt nam như một thị trường đánh nhanh thắng nhanh và có thể thắng rất lớn. Hoàn toàn không có kinh nghiệm hoạt động theo các nguyên tắc hoạt động bảo đảm tính minh bạch, có thể kiểm tra được, không có các qui định rõ ràng, ổn định, mọi thông tin về doanh nghiệp hoàn toàn có thể bị thay đổi dễ dàng, có thể gây ra những biến động giả tạo hay các cơn sốt cung-cầu giả tạo có giá trị lớn bằng một số vốn nhỏ, thị trường chứng khoán Việt nam chắc chắn sẽ được các nhà đầu tư quốc tế láu cá để mắt đến ngay lập tức.

Mặc dù từ tháng 4 năm 2007 các ngân hàng nước ngoài được mở chi nhánh 100% vốn của mình ở VN, nhưng chúng chắc chắn không được chính phủ VN hoan nghênh. Vì rõ ràng ngân hàng nước ngoài sẽ nhanh chóng trở thành chỗ dựa chủ yếu của doanh nghiệp VN, giúp chúng ngày càng ít phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng quốc gia. Tuy nhiên, một hệ thống các ngân hàng nước ngoài mạnh tại VN lại là một đảm bảo quan trọng cho hoạt động an toàn của thị trường chứng khoán, ngăn ngừa, cảnh báo các hoạt động đầu cơ quốc tế không lành mạnh. Nếu mục tiêu của VN vẫn là bảo vệ vị trí chủ đạo cho thành phần kinh tế nhà nước trong đó ngân hàng đóng vai trò trụ cột, thì chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi, nguy cơ sụp đổ thị trường chứng khoán, sụp đổ hệ thống ngân hàng sẽ trở thành hiện thực.

Thu hút mạnh đầu tư quốc tế?

Mục tiêu cấp bách, quan trọng hàng đầu của chính phủ VN khi vào WTO là tạo điều kiện hấp dẫn các công ty Mỹ và quốc tế đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào VN. Là thành viên WTO, VN sẽ trở nên hấp dẫn nhà đầu tư hơn, nhưng chắc chắn không đáp ứng được hy vọng của VN cả về tốc độ, giá trị đầu tư, lẫn các lĩnh vực đầu tư quan trọng.

Mặc dù qui chế thành viên WTO là cơ sở pháp lý quan trọng đối với nhà đầu tư quốc tế, nhưng bản thân nó không phải là một bảo hiểm chống rủi ro trong đầu tư. Khi đầu tư vào một thị trường mới với nhiều yếu tố rủi ro không thể lường trước được- đặc biệt là đầu tư vào các nước ĐPT- nhà đầu tư của các nước CNPT thường yêu cầu bảo hiểm vốn đầu tư thông qua các qũi bảo hiểm đầu tư của chính phủ nước họ. Trong truờng hợp rủi ro như bị quốc hữu hóa, bị thay đổi luật lệ ảnh hưởng tiêu cực đến kinh doanh, hay đối tác liên doanh bị phá sản v...v ở nước nhận đầu tư, họ sẽ được bồi hoàn vốn đã bỏ ra. Qui mô, mức độ và những lĩnh vực nào được bảo hiểm, hoàn toàn do Quỹ bảo hiểm đầu tư quốc gia quyết định dựa trên sự đánh giá của riêng mình về tình trạng an toàn kinh doanh cho từng trường hợp cụ thể. Và vì vậy, thực ra cũng không phụ thuộc quyết định vào việc nước nhận đầu tư có là thành viên WTO hay không.

Nói một cách khác, qui chế thành viên WTO của VN chưa phải là một bảo đảm chắc chắn để nhà đầu tư nước ngoài nhận được bảo hiểm từ chính phủ của họ, đặc biệt là trong thời kỳ 12 năm kinh tế phi thị trường. Một vài trở ngại cơ bản sau đây chắc chắn sẽ làm các Qũi bảo hiểm đầu tư quốc tế vẫn rất thận trọng khi khuyến khích đầu tư tại VN:

-WTO không phải là phép màu thay đổi môi trường đầu tư tại VN. Riêng việc bảo đảm thực hiện những qui định của WTO đã là một thách đố lớn lao đối với bộ máy quản lý và hệ thống pháp luật của VN. Ngay việc hiểu cho đúng nội dung các qui định này đã là một trở ngại lớn, không chỉ đối với phần lớn các doanh nghiệp, mà cả cho các cơ quan công quyền. Tuy nhiên, điều lo ngại nhất của nhà đầu tư nước ngoài không phải là trình độ quản lý yếu kém, luôn luôn đòi hối lộ của các cơ quan công quyền, hay tính không minh bạch trong hoạt động tài chính, mà là môi trường pháp lý không rõ ràng, luôn luôn có thể bị thay đổi tùy theo lợi ích chính trị của tầng lớp cầm quyền; theo tương quan quyền lực giữa các phe phái trong nội bộ đảng CS. Những yếu tố quan trọng cho quyết định đầu tư như vậy lại là những yếu tố không thể dự đoán được đối với nhà đầu tư vào VN. Với việc chấp nhận VN có 12 năm kinh tế phi thị trường, Mỹ đồng thời cũng phát đi tín hiệu cảnh báo cho cộng đồng quốc tế phải tính tóan đến các yếu tố rủi ro trên.

-Bản thân WTO cũng chưa phải là một cơ sở pháp lý đầy đủ và hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi pháp lý của nhà đầu tư quốc tế tại VN. Quyền lợi pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài nói chung và của Mỹ nói riêng, khi xảy ra tranh cãi, chỉ có thể được bảo đảm khi: a) qúa trình xét xử được thực hiện một cách khách quan, công bằng, bởi một hệ thống tòa án độc lập với các thẩm phán có trình độ chuyên môn xứng đáng; b) Phán quyết chung cuộc của tòa án phải được thực hiện một cách triệt để và chỉ có tòa án mới có quyền ảnh hưởng đến việc thực hiện này; c) Quyền khiếu nại của nhà đầu tư phải được bảo đảm bởi một hệ thống toàn án chuyên ngành hoàn chỉnh các cấp, kể cả tòa Hiến pháp và toàn án quốc tế thích hợp. Tất cả các điều kiện này đều thiếu hụt một cách trầm trọng ở Việt nam.

Như vậy, các nhà đầu tư lớn trong những lĩnh vực có tầm quan trọng then chốt để phát triển kinh tế quốc dân sẽ không ồ ạt vào VN, ít nhất là trong 12 năm VN còn tồn tại kinh tế phi thị trường. Ngân hàng nước ngoài cũng sẽ rất thận trọng trong hoạt động cho vay vốn đầu tư, kinh doanh tại VN. Các lĩnh vực có thể nhận được làn sóng đầu tư đẹp mắt từ nước ngoài là những lĩnh vực trực tiếp tận dụng sức mua của người dân Việt Nam-rất lớn nhờ kiều hối, nhờ xuất khẩu lao động- chứ không phải những lĩnh vực khai thác sức sản xuất của VN. Chẳng hạn như: hệ thống siêu thị phân phối bán lẻ, dịch vụ du lịch quốc tế, bảo hiểm, xây dựng và bất động sản, bưu chính-viễn thông, ngân hàng (có giới hạn), gia công sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản thực phẩm bán tại VN, v.v.

Thúc đẩy VN hội nhập kinh tế thế giới

Con đường phát triển kinh tế của các nước đang phát triển sau khi giành được độc lập dân tộc đều giống nhau một cách đáng ngạc nhiên. Vào những năm 60 đó là chiến lược hạn chế nhập khẩu nhằm hỗ trợ công-nông nghiệp trong nước. Sự thành công của một số nước ÐPT tại Ðông Nam Á vào những năm bẩy mươi, khi chuyển sang chiến lược mới hướng về xuất khẩu, đã thúc đẩy các nước khác làm theo.

Nhưng trong khi CNÐPT này còn phải bận rộn cạnh tranh lẫn nhau do xuất khẩu những mặt hàng giống hệt nhau (nguyên liệu thô, hàng dệt, da giày, may mặc và nông sản thực phẩm), thì vài nước ÐPT tiên phong vào cuối thập niên tám mươi đã chuyển hướng sang xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh. Vào giữa những năm chín mươi, họ lại một lần nữa tái cấu trúc ngành hàng xuất khẩu để ngày nay hội nhập thành công vào qúa trình phân công lao động quốc tế, trở thành nhân tố không thể thiếu trong giao dịch sản phẩm công nghiệp nội ngành- một trong những giao dịch đặc trưng của qúa trình toàn cầu hóa. Ðó là các nước Hàn quốc, Ðài Loan, Hồng Kông, Singapore, và gần đây có thể kể thêm Ấn Ðộ. Một vài điểm chung mà người ta dễ dàng nhận thấy ở các nước này là: a) Môi trường pháp lý ổn định, được xây dựng theo tiêu chuẩn của nhà nước pháp quyền châu Âu (ví dụ: Hệ thống Luật pháp và cơ cấu tòa án của Hàn quốc- cũng như của Nhật- về cơ bản là du nhập hệ thống Luật pháp của Tây Ðức); b) Ngày càng hạn chế can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế; c) tổng giá trị đầu tư của nước ngoài (đặc biệt là đầu tư trực tiếp) cao hơn rất nhiều so với CNÐPT khác; d) Số lượng giao dịch chuyển giao công nghệ-tri thức từ các nước công nghiệp phát triển được giữ ở mức cao và ổn định.

Có thể dễ dàng thấy rằng các nước này đã biết tập trung thời gian và sức lực để nghiên cứu xu hướng kinh tế toàn cầu từ đó đưa ra các chiến lược phát triển độc đáo mang tính cạnh tranh, vừa phù hợp với hoàn cảnh riêng vừa đáp ứng nhu cầu thị trường toàn cầu. Để tập trung được như vậy, họ đã cương quyết không tốn công sức cho vấn đề quan trọng nhất nhưng đã được thế giới giải quyết rất tốt là xây dựng môi trường pháp lý, cấu trúc nhà nước pháp quyền dân chủ. Chỉ trong nhà nước pháp quyền dân chủ, mọi thành viên xã hội mới có quyền và cơ hội bình đẳng tham gia vào qúa trình hình thành các quyết sách của nhà nước, của chính phủ. Và vì thế, khả năng thành công của các chính sách quốc gia là rất lớn.

WTO không trao môi trường pháp lý tốt nhất cho VN chỉ qua một đêm. Nó chỉ tạo sức ép và đặt VN vào lộ trình không thể đảo ngược được với đích đến là xã hội văn minh dân sự, nhà nước pháp quyền dân chủ. Nhanh hay chậm hoàn toàn là công việc nội bộ của VN. Hiện tại, chúng ta còn đang ở trình độ như của các nước ĐPT vào những năm 70 của thế kỷ trước. Một khi chúng ta vẫn quyết tâm „sáng tạo“ nhà nước pháp quyền XHCN, vẫn cương quyết lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, thì không thể có các quyết sách quốc gia có tính cạnh tranh được và nguy cơ VN hội nhập quốc tế chỉ tăng trưởng mà không phát triển sẽ nhanh chóng trở thành hiện thực.

Như vậy, trước mắt qui chế thành viên WTO sẽ làm nền kinh tế VN có bộ mặt hào nhoáng trong một thời gian ngắn. Việc khai thác tốt những khả năng và triển vọng do WTO đem lại phụ thuộc rất nhiều vào sự thực thi nghiêm chỉnh các qui định của WTO trong thực tế và vào quyết tâm cải tổ của chính phủ VN. Trong ý nghĩa chiến lược, WTO là một thử thách quan trọng- là lửa thử vàng- đầu tiên và cũng là cuối cùng đối với chiến lược hội nhập của đảng CSVN. Nhưng dù muốn dù không, sự gia nhập WTO cũng là một cú hích của thượng đế đưa VN thực sự bước vào qúa trình không thể đảo ngược được để trở về một xã hội văn minh dân sự với một nhà nước pháp quyền dân chủ thật sự của dân, do dân và vì dân.

Các ý trong bài đều thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Quý vị có ý kiến gì xin mời chia sẻ với Diễn đàn BBC ở địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Vào WTO là cú hích của Thượng Đế
06 Tháng 6, 2006 | Diễn đàn BBC
Năm căn bệnh của công chức ở VN
29 Tháng 5, 2006 | Diễn đàn BBC
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân