Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
11 Tháng 4 2006 - Cập nhật 19h52 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Dân chủ và quyền con người, quyền dân chủ
 

 
 
Nghiên cứu sinh ngành Luật ở đại học Manchester Metropolitan, Hoàng Nghĩa
Tác giả nói Việt Nam trong thời trước đổi mới, không phải không có hệ tư tưởng chính thống của hệ thống chính trị dân chủ và tiên tiến
Nội dung cốt lõi của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân hay sự kiểm soát của nhân dân đối với toàn bộ quá trình ban hành và thực thi các quyết định chung của chính thể nhà nước ấy.

Tiền đề của nó không phải cái gì khác hơn là việc coi công dân là cơ sở, nguồn gốc của mọi quyết định cũng như các thiết chế quản lý.

Ðiều này là vô cùng quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định đối với việc tạo ra cơ chế nhằm luôn luôn bảo đảm việc tính đến những lợi ích của các công dân. Nguyên tắc nền tảng của dân chủ đó chính là mọi công dân đều có quyền quyết định trong toàn bộ quá trình quản lý, điều hành của xã hội, có quyền quyết định đối với tất cả những vấn đề chung của xã hội, một cách gián tiếp hoặc trực tiếp: thông qua sự uỷ quyền cho các cơ quan quyền lực của Nhà nước hay tham gia vào chính những cơ quan này biểu; đồng thời công dân có quyền được hưởng những ích lợi từ những quyết định ấy, cũng như việc hưởng thụ những quyền ấy phải là cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi công dân.

Muốn thực hiện được điều này, cần có một cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với đối với quá trình chuyển giao quyền lực từ nhân dân cho Nhà nước và từ quyền lực lực của Nhà nước thành quyền và lợi ích của nhân dân.

Như vậy, hiển nhiên ở đây cho thấy rằng mối quan hệ thống nhất hữu cơ và biện chứng giữa việc thực hiện quyền con người và dân chủ.

Dân chủ ở đây có ý nghĩa như là phương tiện, là tiền đề để thực hiện được mục tiêu mọi công dân đều có quyền, để thực hiện quyền con người; nhưng đồng thời, để thực hiện được dân chủ, nghĩa là để một chính thể đó là dân chủ, thì nhân dân, mọi công dân cần phải có được các quyền cơ bản của mình với tính cách như là tiền đề cho thực thể dân chủ nảy sinh, chẳng hạn, đó là quyền được tham gia vào việc quản lý và điều hành xã hội (quyền bầu cử, ứng cử, quyền tự do lập hội, tham gia vào các nghiệp đoàn, quyền tự do báo chí, hội họp,...).

Như vậy, ở đây, dân chủ là đóng vai trò như là mục đích còn nhân quyền lại đóng vai trò như là phương tiện. Trong mối quan hệ giữa dân chủ và nhân quyền thì cả hai chúng đều vừa là mục đích và vừa là phương tiện, do đó chúng có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời, quy định và làm nên nhau. Ðây là mối quan hệ hết sức phức tạp và còn chịu sự tác động bởi những tác nhân cực kỳ quan trọng đó chính là vai trò của các tổ chức chính trị với tư cách như là chủ thể của quyền lực nhà nước do nhân dân lựa chọn.

Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa dân chủ và quyền con người, cái nào quy định cái nào, cái nào có trước, cái nào có sau có thể cần phải căn cứ vào tính đặc thù của các quyền cũng như của việc hiện thực hoá chúng.

Chẳng hạn, chúng ta đều biết rằng, các quyền của con người là thống nhất, phụ thuộc lẫn nhau và không thể chia cắt. Song, giữa chúng có tính độc lập tương đối. Ðó là, việc thực hiện các quyền kinh tế xã hội và văn hoá đôi khi không phụ thuộc vào việc thực hiện các quyền dân sự và chính trị, và ngược lại, việc thực hiện các quyền dân sự và chính trị không hẳn phụ thuộc vào các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Và sự độc lập tương đối này chỉ diễn ra một cách có hiệu quả và hiện thực ở trong một xã hội dân chủ, trên nền tảng dân chủ. Chẳng hạn, việc thực hiện các quyền bầu cử và ứng cử của một công dân nào đó không nhất thiết phải đòi hỏi công dân ấy đã thực hiện được các quyền kinh tế-xã hội cơ bản hay chưa (như đã có việc làm hay thất nghiệp, vô gia cư hay có nhà ở, có bảo hiểm xã hội hay không có bảo hiểm xã hội,...).

 Quyền bầu cử, ứng cử của công dân sẽ chỉ là ảo tưởng, nếu như không có những thiết chế dân chủ để bảo đảm cho quá trình bầu cử diễn ra công khai.
 

Quyền bầu cử, ứng cử của công dân sẽ chỉ là ảo tưởng, là quyền- danh nghĩa, quyền-hư vô nếu như không có những thiết chế dân chủ để bảo đảm cho quá trình bầu cử diễn ra công khai, công bằng và trung thực.

Ngược lại, có thể bảo đảm và hiện thực hoá được các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, công dân có thể thực hiện được đầy đủ và hiện thực các quyền về bầu cử, ứng cử của mình, dưới sự kiểm soát dựa vào cơ chế dân chủ, trong khi các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá của họ còn hạn chế và chưa bảo đảm đầy đủ. Như vậy, chỉ có khả năng duy nhất cho việc thực hiện các quyền này, một cách độc lập tương đối, đó là phải dựa trên một nền dân chủ đích thực.

Nếu tĩnh tại mối quan hệ độc lập tương đối này chúng ta sẽ xác định được tính quy định, tính có trước và có sau của mối quan hệ giữa dân chủ và quyền con người, bởi lẽ trong mối quan hệ giữa hai nhóm quyền ấy, dân chủ đóng vai trò như là yếu tố thứ 3, dân chủ chính là điều kiện tiên quyết cho việc bảo đảm đích thực quyền con người.

Như vậy, xét đến cùng thì dân chủ đóng vai trò như là điều kiện tiên quyết, là phương tiện để xây dựng một thiết chế xã hội tiến bộ-một thiết chế xã hội bảo đảm và hiện thực hoá các quyền con người. Như một học giả đương đại, David Beetham, khẳng định trong cuốn Dân chủ và quyền con người (1999) : "dân chủ là một phương tiện để thực hiện lợi ích chung bởi vì nó cho phép nhân dân xác định được lợi ích chung đó là gì cũng như kiểm soát quá trình mà ở đó nó được thực hiện hiệu quả trong thực tiễn."

Ý nghĩa thực tiễn của mối quan hệ này chỉ ra rằng, muốn thúc đẩy xã hội phát triển, muốn bảo đảm và hiện thực hoá được các quyền của con người, muốn quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trước hết cần phải xây dựng một xã hội dân chủ, tạo lập các thiết chế dân chủ. Và muốn có một xã hội dân chủ thì trước hết phải có một chủ thể của quyền lực nhà nước-các tổ chức chính trị, -hệ thống chính trị dân chủ. Muốn có một hệ thống chính trị dân chủ thì cần phải có một hệ tư tưởng chính thống của hệ thống chính trị dân chủ, với tính cách là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước và của toàn xã hội.

Hệ tư tưởng dân chủ sẽ sản sinh ra cơ chế dân chủ, cơ chế dân chủ sẽ sản sinh ra chính thể dân chủ, chính thể dân chủ sẽ sản sinh ra nền dân chủ mà trên đó quyền con người được nảy nở và đảm bảo đích thực. Tuy nhiên, không phải lúc nào quá trình này cũng diễn ra một cách trôi chảy và tất yếu. Quá trình này còn có những nhân tố hết sức quan trọng khác nữa, chẳng hạn đó là vai trò quyết định của một đảng chính trị cách mạng và một nhà lãnh đạo của đảng chính trị cách mạng.

Đối với Việt Nam, trong thời kỳ trước đổi mới, không phải chúng ta không có hệ tư tưởng chính thống của hệ thống chính trị dân chủ và tiên tiến, cũng không phải chúng ta không có một đảng cách mạng và nhà lãnh đạo cách mạng, mà là bởi vì hệ thống đó hoạt động chưa đúng quỹ đạo, chưa thực sự dân chủ.

Ðiều này cũng do chưa thiết lập được một cơ chế hiệu quả để dân chủ thực sự ra đời và làm cơ sở cho chính hệ thống đó trở nên dân chủ. Chính điều này là nguyên nhân làm hạn chế việc bảo đảm và hiện thực hoá các quyền con người. Chẳng hạn, do thiếu cơ chế dân chủ về kinh tế, trong nền kinh tế thời kỳ này chỉ độc tôn một hình thức sở hữu duy nhất đó là sở hữu công cộng-sở hữu tập thể- sở hữu nhà nước, nên đã dẫn tới làm hạn chế việc thực hiện các quyền con người về tự do kinh doanh, quyền có việc làm, quyền có nhà ở, quyền tự do thoát khỏi sự khốn cùng và đói nghèo,...sở hữu cá nhân.

 Việc luận giải đảng viên có được phép làm kinh tế tư nhân cũng là việc luận giải lý luận về quyền con người và về dân chủ.
 

Hiện nay, chúng ta đang đứng trước sự lúng túng về nhận thức và lý luận trong việc luận giải là đảng viên có được phép làm kinh tế tư nhân hay không. Thực chất đó là việc luận giải lý luận về quyền con người và về dân chủ. Và, đó cũng chính là việc luận giải quyền sở hữu tư nhân có phù hợp với lý tưởng xã hội dân chủ hay không. Câu trả lời là đó hoàn toàn phù hợp và là lẽ tự nhiên.

John Locke, một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của thời kỳ khai sáng châu Âu, trong tác phẩm Hai Chuyên luận về Chính phủ (1689) đã khẳng định rằng trong các quyền tự nhiên của con người gồm có quyền sống, quyền tự do, và quyền sở hữu. Như vậy sở hữu là một quyền tự nhiên của con người. Suy rộng ra, sở hữu tư nhân cũng là một quyền tự nhiên của con nguời. Luận điểm tiền đề và bất dịch của học thuyết pháp luật tự nhiên và quyền tự nhiên là mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng về quyền. Do vậy, quyền sở hữu và sở hữu tư nhân là một quyền chính đáng của con người. Xét từ góc độ luật tự nhiên, đảng viên hoàn toàn có quyền sở hữu tư nhân vì họ là thể nhân tự nhiên. Xét từ góc độ nhà nước pháp quyền, đảng viên cũng hoàn toàn có quyền ấy vì họ là công dân.

David Beetham cũng cho rằng, các quyền dân sự và chính trị cấu thành một phần không thể tách rời của dân chủ. Nếu không có các quyền này, thì dân chủ sẽ trở nên vô nghĩa vì không thiếu tự do ngôn luận, lập hội, hội họp, đi lại hoặc đảm bảo an ninh cá nhân, đồng thời sẽ không thể thực hiện được quá trình bầu cử hợp pháp trong phạm vi kiểm soát của chính phủ. Trong khi đó thì các quyền về kinh tế-xã hội có thể được thể hiện tốt nhất chỉ khi đặt trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với dân chủ. Sự thiếu vắng phổ biến các quyền này dẫn đến sự thoả hiệp về sự bình đẳng dân sự và chính trị, chất lượng cuộc sống chung và sự tồn tại lâu dài của chính các thiết chế dân chủ; dân chủ, mặt khác, chỉ tạo thành điều kiện cần chứ chưa phải là đủ đối với việc bảo đảm các quyền kinh tế-xã hội.

Cuối cùng, việc bảo đảm các quyền văn hoá trong các xã hội đa văn hoá, đòi hỏi phải có một khái niệm tái thẩm định về dân chủ và các cơ chế của nó, nếu như sự bình đẳng của công dân được hiện thực hoá và quốc gia chính trị không bị tan rã từng phần. Beetham đặc biệt nhấn mạnh rằng, dân chủ trong thời đại ngày nay, nói chung, phải được hiểu không chỉ với tính cách là dân chủ về mặt chính trị mà còn với tính cách là dân chủ về mặt xã hội nữa. Nghĩa là, không chỉ là yêu sách về sự bình đẳng chính trị thuần tuý, mà còn là yêu sách về sự bình đẳng xã hội mà tiền đề cho sự bình đẳng đó chính là một thiết chế dân chủ được tạo lập.

Ðiều này cũng đã được các nhà kinh điển mác-xít khẳng định ngay từ thế kỷ XIX, các ông viết: "Yêu cầu về bình đẳng không còn giới hạn trong những quyền chính trị nữa, mà đã mở rộng ra đến cả địa vị xã hội của mỗi cá nhân." ( C.Mác-Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 20, Nxb CTQG)

Quyền dân chủ chính là những yêu sách, nhu cầu nội tại của mỗi cá nhân, với tư cách là công dân của nhà nước, về các nguyên tắc, các chuẩn mực pháp lý dân chủ trong một thiết chế xã hội dân chủ nhằm bảo đảm sự tham gia một cách tự do, bình đẳng và đầy đủ vào các công việc của nhà nước và toàn bộ đời sống xã hội của con người. Quyền dân chủ thực chất chính là yêu sách về bình đẳng chính trị và xã hội của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước, bảo đảm cho cá nhân khả năng hành động theo ý mình, cho sự tự quyết định và làm chủ ý chí của mình mà không có hại cho người khác, và do đó cho khả năng giải phóng toàn diện những năng lực bản chất người của mỗi cá nhân. Ph.Ăngghen khẳng định: "từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách là những con người, rút ra cái quyền có một giá trị ngang nhau về chính và xã hội cho tất cả mọi người, hay ít ra là cho công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên trong xã hội."

Như vậy, quyền dân chủ trước hết là quyền con người, hơn nữa nó nhấn mạnh đặc biệt đến các quyền về chính trị như là khả năng và điều kiện tiên quyết để thực hiện đầy đủ các quyền con người cơ bản khác. Bởi vì, sự giải phóng chính trị là điều kiện tiên quyết đối với mọi sự giải phóng khác của con người, bình đẳng về chính trị là tiền đề của mọi sự bình đẳng. Hay nói cách khác các quyền về chính trị (tự do bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, tự do lập hội, hội họp, tự do báo chí, ...), một mặt, là tiền đề cho việc hiện thực hoá các quyền khác, mặt khác, là sự phản ánh về mức độ giải phóng "năng lực bản chất người" của mỗi cá nhân, nó chính là nội dung cốt lõi của quyền con người, nó khẳng định con người là "một nhân tính tự do", "một nhân cách-văn hoá" và "chủ thể sáng tạo của lịch sử và của giới tự nhiên".

Chính vì vậy, các nhà kinh điển mác-xít đã đặc biệt nhấn mạnh đến các quyền về chính trị như là bản chất của quyền dân chủ: "Vì thế, yêu sách khẩn cấp của công nhân và nhiệm vụ trước tiên để giai cấp công nhân có ảnh hưởng đến công việc của nhà nước là phải giành được tự do chính trị, nghĩa là tất cả mọi công dân đều được pháp luật đảm bảo cho họ trực tiếp tham gia việc quản lý nhà nước, tất cả mọi công dân đều được quyền tự do hội họp, bàn bạc công việc của mình, kinh qua các hội của mình và báo chí mà ảnh hưởng đến công việc của nhà nước. Giành lấy tự do chính trị trở thành "một việc làm khẩn cấo đối với công nhân "bởi vì không có tự do chính trị, không có và không thể có ảnh hưởng gì đến công việc của nhà nước và như vậy thì tất nhiên họ vẫn là một giai cấp không có quyền, bị lăng nhục và không được bày tỏ ý kiến của mình".

Quyền dân chủ còn là một giá trị xã hội của con người đã được thể chế hoá thành hệ thống pháp luật của một nhà nước nhất định gắn với một hệ thống chính trị nhất định dựa trên một trình độ phát triển nhất định về kinh tế và văn hoá.

Vì vậy, quyền dân chủ một mặt là sự phản ánh bước tiến của con người về tự do, bình đẳng và sự giải phóng toàn diện năng lực bản chất người của mỗi cá nhân, mặt khác phản ánh sự phát triển của luật pháp, trình độ kinh tế, văn hoá và tiến bộ xã hội của quốc gia đó.

Do đó, có thể nói quyền dân chủ chính là quyền và tự do cơ bản của con người trong một chế độ xã hội dân chủ, hay chính là yêu sách, nhu cầu chính đáng của con người về sự bình đẳng chính trị và bình đẳng xã hội với tính cách là môi trường và điều kiện cho sự tồn tại, phát triển và hoàn thiện nhân cách-văn hoá và nhân tính-tự do của mỗi cá nhân.

...........................................................

Nguyên Phương, Huế
Tôi không nghĩ như bạn Quang Duy khi cho rằng '60 năm qua con thuyền dân chủ Việt Nam vẫn lênh đênh', mà thực tế Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực dân chủ và nhân quyền trong suốt những năm tháng đầy giông tố và bão táp của 60 năm qua. Hãy nhận thức về vận mệnh của dân tộc và thời đại bằng cả con tim, khối óc của một người dân đất Việt thực sự. Chẳng có một dân tộc nào trên thế giới này lại luôn luôn phải gánh chịu những sự xâm lăng của ngoại bang tàn khốc nhất và dã man nhất của nhân loại. Chúng ta đừng dễ ngộ nhận và mù quáng trước những giá trị dân chủ, nhân quyền mà phương Tây đang áp đặt cho phương Đông. Đành rằng có những giá trị mang tầm nhân loại và phổ quát cho mọi nền văn hóa. Song chúng phải là những giá trị thực và được thực hành nghiêm túc chứ không phải là sự nhân danh của những giá trị đặc thù của một vài dân tộc nào đó.

Là một người Á Đông, với dòng văn hóa Á Đông giàu chất nhân văn và đạo lý chảy trong tâm hồn và con người, tôi cho rằng, đã đến lúc chúng ta phải đối diện với chính mình và với những luận điệu xuyên tạc rằng chẳng có cái gọi là giá trị Á châu trong quan niệm về dân chủ và nhân quyền. Hay luận điệu luôn xuyên tạc rằng những nước có thể chế chính trị khác biệt với họ là 'độc tài', 'là chà đạp nhân quyền', 'là không dân chủ',... Thực tế, Việt Nam-một đất nước đã từng là biểu tượng của ý chí đấu tranh cho nền độc lập, hòa bình, tự do và dân chủ của cả thế giới-không thể lại là một đất nước bị coi là chà đạp tự do, dân chủ được. Chỉ có sự nhận thức ấu trĩ về chính trị và giá trị nhân văn mới gọi tên không xứng như thế. Chúng ta đừng bao giờ chỉ vì cái lợi vật chất tầm thường có được từ 'bố thí' của sự hội nhập nền kinh tế thế giới hay quá trình toàn cầu hóa, hay đánh đổi cả giá trị độc lập và tự do của dân tộc hàng ngàn năm mới có được để lấy sự nô lệ mới thông qua phiên chợ đế quốc kinh tế sắp tàn canh của WTO. Nhưng cái đó là cần thiết, song không phải vì thế mà phủ nhận thành tựu to lớn của giá trị dân chủ và nhân quyền mà dân tộc Đại Việt này đã tạo dựng, nhất là trong 60 năm qua. Giá trị dân chủ và nhân quyền lớn nhất mà cả dân tộc có được đó là nền độc lập mà ở đó những thân phân nô lệ và con người cùng khổ đã trở thành người và được học hành tử tế để hôm nay phán xét lại lịch sử và dân tộc.

Tôi không hề phủ nhận những thành tựu vượt bậc của nền văn minh phương Tây. Song không phải vì đang được học cái chữ ở phương Tây mà luôn miệng ngợi ca cả những cái giá trị đang trở thành lỗi thời và đê tiện của phương Tây.

Chẳng phải, thậm chí ngay trong kỷ nguyên được coi là văn minh và nhân văn nhất này, những kẻ luôn cho mình quyền phán xử người khác, luôn 'lên mặt dạy đời', 'người nhân danh cho tự do, công lý' đã từng sử dụng những sự tàn sát dã man và phi nhân tính nhất trong lịch sử đối với dân tộc Việt Nam: hàng triệu triệu tấn bom và thuốc độc màu da cam phủ lên mảnh đất ngàn năm văn hiến này. Thât trớ trêu thay kẻ vi phạm và chà đạp dân chủ và nhân quyền ghê tởm nhất ấy đã từng muốn đưa nền độc lập và dân chủ non trẻ ấy về thời kỳ đồ đá. Chúng để lại hậu quả ghê ghớm cho nền dân chủ non trẻ ấy: với hàng trăm ngàn trẻ em sinh ra mang khuyết tật và hàng chục triệu người con đất Việt đã hy sinh.

Vậy thử hởi làm sao mà nền dân chủ ấy không có giông tố? Không phải nền dân chủ Việt Nam tạo ra giông tố, mà trái lại giông tố và bão táp luôn muốn làm chìm đắm con thuyền văn hiến ngàn năm bất diệt. Không phải Việt Nam không không có dân chủ, nhân quyền, mà trái lại, hơn ai hết dân tộc Việt Nam xứng đáng phải là người dương cao ngọn cờ dân chủ và nhân quyền cho toàn thế giới!

Quang Duy, Canberra
Có khi nào Hoàng Nghiã tự hỏi đã hơn 60 năm tại sao con thuyền dân chủ Việt Nam vẫn tiếp tục trôi nổi trong dông bão hay không? Có phải thuyền trưởng thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức, thiếu tin tức, thiếu bản đồ, lạc đường, thiếu la bàn ... hay là thuyền trưởng có quá nhiều ý chí để tự lao mình, thử thách sóng gió, trong khi toàn tàu đã mất hẳn niềm tin vào thuyền trưởng và vào cả bến bờ mà thuyền trưởng luôn mồm hứa hẹn.

Bài viết cuả bạn, có lý thuyết nhưng thiếu hẳn thực tiễn. Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng luật pháp chỉ là những công cụ cuả giai cấp thống trị tư sản, không cần thiết trong nền chuyên chế vô sản, cho việc xóa bỏ các giai cấp và thành lập một xã hội không có nhà nước. Xã hội này được Marx đặt tên là xã hội cộng sản.

Về thực tiễn, khi đã nắm được quyền lực, Lenin cũng bắt đầu bằng các công xã, nhưng chỉ một thời gian ngắn ông đã nhận ra đây chỉ là hình thức vô chính phủ. Từ đó, ông đổi hình thức tổ chức nhà nước cho thành lập một chính quyền Sô-viết. Sô-viết có thể được dịch là các hội đồng. Stalin đi xa hơn sử dụng hiến pháp để che đậy chế độ độc tài toàn trị.

Bản hiến pháp Sô-viết đầu tiên đã được chính thức ban hành vào tháng 11 năm 1936, và được tự nhận như một bản hiến pháp "dân chủ nhất thế giới". Dân chủ đến độ Bukharin và Radek, hai soạn giả cuả hiến pháp nói trên, đã bị kết án tử hình vào tháng 3 năm 1938. Hiến pháp Sô-viết 1936 (và hiến pháp tu chính 1977) đã đề cập rất rõ mối quan hệ giữa đảng và nhà nước. Điều 6 cuả hiến pháp 1977 ghi rõ "Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo và hướng dẫn cuả xã hội Sô-viết và là hạt nhân cuả hệ thống chính trị".

Theo những hiến pháp Sô-viết, nền chính trị cuả Liên Bang Sô-viết được tạo thành bởi các Hội đồng đại biểu nhân dân. Các hội đồng được thành lập ở mọi cấp trong hệ thống hành chính tòan trị. Quyền lực, trên lý thuyết, tập trung trong tay Sô-viết tối cao bao gồm hai viện: Sô-viết Liên Bang và Sô-viết các dân tộc. Cử tri lại chỉ được phép chọn lựa những người đã được đảng cộng sản giới thiệu vào hai viện trên.

Về hình thức, việc ban hành luật pháp phải có sự phê chuẩn của cả hai viện Sô-viết tối cao. Trên thực tế mọi việc đã được đoàn chủ tịch quyết định. Đoàn chủ tịch thì lại bị trực tiếp điều khiển bởi bộ chính trị đảng cộng sản. Do đó, hiến pháp và luật pháp chỉ được soạn ra cho có hình thức. Các nghị quyết cuả đảng mới là các văn bản có giá trị. Đây là những nguyên tắc vận hành "dân chủ tập trung" của cả guồng máy Sô-viết.

Mô hình dân chủ giả tạo này hiện tại vẫn còn được sử dụng tại Việt Nam. Theo đó, quốc hội, chính phủ, tòa án, mặt trận tổ quốc, quân đội và cảnh sát tất cả đều được đặt dưới sự độc quyền lãnh đạo cuả đảng.

Ở thế kỷ thứ 21, mỗi tấm vé là một hợp đồng giữa hành khách và chủ tầu. Luật pháp bắt buộc người chủ tàu phải đưa hành khách đến nơi chốn bình an, đúng lúc,.v.v.. Trong khi đó, hiến pháp là một hợp đồng giữa dân và chính phủ. Vậy mà ở xứ ta đến bây giờ hiến pháp vẫn chỉ là hình thức. Đây là câu trả lời cuả tôi tại sao 60 năm con thuyền dân chủ Việt Nam vẫn tiếp tục trôi nổi trong dông bão.

Sơn Nam, Berlin

Mình cũng là một nghiên cứu sinh về KH Chính trị nên đọc một bài nghiên cứu sâu sắc của bạn Nghĩa về vấn đề phức tạp và rộng lớn như thế này với một nhận xét chung là cách tiếp cận và luận giải hoàn toàn đúng đắn. Thực tế, tác giả đã tiếp cận dân chủ với ý nghĩa là một giá trị xã hội và dân chủ với ý nghĩa là hình thức của nhà nước. Tác giả cũng đi đã luận giải lý luận mác-xít về dân chủ và nhân quyền không phải từ 'trên trời rơi xuống' hay tự các ông vẽ ra, trái lại, nó là sự kế thừa của các tư tưởng tiên tiến của nhân loại, chẳng hạn như tác giả dẫn: Aristotle, Hobbes, Locke, Montesquieu và Rosseause.

Bạn Thanh Sơn đã không đọc kỹ và hiểu đúng ý của tác giả khi quy kết tác giả đã chỉ duy nhất đồng nhất dân chủ về hình thức nhà nước. Tôi hoàn toàn tán đồng với tác giả là dân chủ với tính cách là hình thức của nhà nước ra đời là kết quả của quá trình lịch sử tự nhiên: quá trình đấu tranh và hợp tác trong quá trình sản xuất vật chất giữa người với người và giữa người với giới tự nhiên. Vì thế, dân chủ theo ý nghĩa đó sẽ 'biến mất' để nhường chỗ cho dân chủ tuyệt đối: tức là giá trị xã hội về sự bình đẳng và tự do của con người.

Bạn Thanh Sơn cũng đã nhầm lẫn trong cách hiểu về dân chủ với tính cách một chế độ xã hội hay hình thức của nhà nước với một giá trị xã hội. Như tác giả Hoàng Nghĩa cũng có bàn và nhấn mạnh: 'dân chủ với tính cách là giá trị xã hội, là thành quả giá trị nhân văn, trước hết được sinh ra từ phương thức tổ chức hợp tác sản xuất vật chất và cấu kết cộng đồng giữa người với người thì đã tồn tại ngay từ khi lịch sử thành văn, từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ'. Điều này chỉ ra rằng, trong các xã hội từ nguyên thủy, trải qua nô lệ, phong kiến, tư bản rồi xã hội chủ nghĩa, đều tồn tại dân chủ, nhưng chỉ với tính cách duy nhất là 'hình thức' chứ chưa phải là một hệ thống-tức 'chế độ'. Vì thế mới có hình thức dân chủ chủ nô, phong kiến, tư sản và XHCN. Điều đó giải thích tại sao không có gì ngạc nhiên khi chúng ta tìm thấy hình thức dân chủ tồn tại lác đác và mong manh ở dưới các chế độ quân chủ và phong kiến.

Ở đây, tôi cũng hoàn toàn tán đồng với tác giả Hoàng Nghĩa là đã nhấn mạnh đến dân chủ với tính cách là một chế độ xã hội, một hình thức tổ chức của nhà nước, và một phương thức tổ chức, quản lý và điều hành xã hội một cách phổ biến. Với ý nghĩa đó, dân chủ là chế độ dân chủ, là thể chế chính trị dân chủ chỉ ra đời trong xã hội tư bản trở đi.

Bạn Thanh Sơn cũng đã nhấn mạnh đến ý của tác giả Hoàng Nghĩa về mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủ, nhân quyền và quyền dân chủ. Nhưng bạn Sơn đã sai lầm khi đồng nhất bình đẳng chính trị và bình đẳng xã hội là một. Thực chất đây là hai khái niệm với nội hàm và ngoại diên hoàn toàn khác nhau. Cá nhân có thể có sự bình đẳng chính trị: chẳng hạn, mọi công dân đều có quyền bầu cử và ứng cử như nhau, nhưng thực chất mọi cử tri khi đang thực hiện quyền bình đẳng về chính trị ấy, lại hoàn toàn khác nhau về địa vị xã hội và sự thụ hưởng các giá trị xã hội (tức là đang chịu sự bất bình đẳng về xã hội ghê gớm).

Chúng ta có thể thấy được các đồng bào vùng cao, nông thôn, xa xôi,hẻo lánh, đi bỏ lá phiếu mà trong bụng còn đói và cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, học hành chưa đến nơi đến chốn,... đó chính là sự bất bình đẳng về xã hội đó. Bởi thế, không thể nhầm lẫn tùy tiện giữa hai khái niệm này dẫn đến sai lầm trong thực tiễn là chỉ cho người dân hưởng sự bình đẳng về chính trị mà không chăm lo đến sự bình đẳng về xã hội.

Tác giả Hoàng Nghĩa đã cố gắng phân tích sâu về nội dung và bản chất của dân chủ, nhân quyền và quyền dân chủ, song vẫn còn nhiều điều chưa được đề cập đến. Chẳng hạn, đó là về cơ chế nào để kiểm soát dân chủ và để người dân thực sự làm chủ và hiện thực hóa được các quyền và tự do cơ bản của mình trong khi sự quan liêu và bạo hành của bộ máy chính quyền từ cấp cơ sở đến trung ương, rồi vấn nạn tham nhũng nan tràn,... Tôi thiết nghĩ, tác giả Hoàng Nghĩa cần đi sâu vào việc nhấn mạnh đến cơ chế để giám sát và thực thi dân chủ và quyền dân chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu sắc về kinh tế, văn hóa, chính trị, và cả trước những thách thức của an ninh quốc gia như chủ nghĩa khủng bố và phong trào ly khai,...

Lê Thanh Sơn, TP. HCM
Sơn xin trình bày quan điểm của Sơn về vấn đề dân chủ, quyền dân chủ và quyền con người. Dân chủ là bao hàm bình đẳng, tự do và tự giác. Quyền dân chủ thực chất là đòi hỏi về quyền bình đẳng, quyền tự do được thực hiện một cách tự giác.

Bình đẳng về chính trị thực chất cũng là bình đẳng về xã hội nhưng nó được tách riêng và nhấn mạnh do tầm quan trọng của nó, vì nó là tiền đề cho bình đẳng xã hội (cho mọi sự bình đẳng nói chung). Đằng sau quyền lực là bóng dáng của quyền lợi. Bình đẳng chính trị là sự ngang bằng và như nhau về quyền lực của mọi công dân trong xã hội đứng trước pháp luật. Đây là hai vấn đề gắn bó khăng khít vì chỉ khi hệ thống pháp luật được xây dựng cho mục tiêu bình đẳng thì nó sẽ tạo cơ hội cho bình đẳng chính trị nảy sinh và phát triển. Hệ thống pháp luật dân chủ chỉ có được khi người dân trực tiếp đấu tranh thông qua các tổ chức chính trị của mình để trước tiên đề ra các nguyên tắc cơ bản cho nền dân chủ, cho sự phát triển.

Bình đẳng xã hội: thực chất là sự ngang nhau về "cơ hội" cho sự phát triển của các cá nhân trong xã hội. Không ai có thể ép buộc người khác ăn giống mình, nghĩ giống mình, và có cuộc sống giống mình...; vì vậy bình đẳng xã hội phải được hiểu là sự ngang nhau về quyền chọn lựa, khả năng nhận được cơ hội cho sự phát triển cá nhân (bình đẳng phải tôn trọng quyền tự do).

Quyền tự do: phải hiểu là quyền tự do cá nhân, tự do chung cho các cộng đồng trong xã hội và tự do cho tòan xã hội. Không ai chấp nhận quyền tự do hủy hoại tùy tiện (như tự do chết mà không có lý do đặc biệt; hay tự do hủy hoại cuộc sống và tài sản của người khác mà không có lý do đặc biệt nào,...). Vì vậy tự do phải được hiểu là quyền tự do phát triển. Tự do cho sự phát triển của cá nhân, tự do cho sự phát triển đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho sự phát triển chung cho toàn xã hội.

Tự do và bình đẳng là hai mặt của một vấn đề. Bình đẳng nhưng phải tôn trọng sự tự do (bình đẳng về cơ hội và quyền chọn lựa nhưng chấp nhận tự do nhận cái gì, chọn lựa cái gì). Tự do cũng không thể có hay được hoàn hảo nếu không có bình đẳng (vì nếu ai hoặc một nhóm cá thể nào đó có "quyền lấy" nhiều hơn thì các cá thể khác hay nhóm cá thể khác sẽ bị giảm bớt "cơ hội của sự chọn lựa" đi). Đặc biệt vì tự do là tiền đề cho sự phát triển nên nếu tự do bị ảnh hưởng thì sẽ không có sự phát triển.

Quyền tự do bao gồm tự do cá nhân và tự do về chính trị. Tự do về chính trị thực chất cũng là tự do cá nhân nhưng nó được nhấn mạnh vì nó là tiền đề cho tự do cá nhân nói chung. Tự do chính trị thuộc về phạm vi tự do tư tưởng. Vì cá nhân muốn được tự do thì xã hội phải cho họ quyền được tự do, và điều đó phải được ghi trong văn bản pháp luật. Chỉ khi cá nhân được trao quyền tự do thì họ mới có thể thực hiện được sự tự do của chính mình. Đây là hai vấn đề gắn bó mật thiết, vì chỉ khi có được tự do chính trị thì các thành viên trong xã hội mới đấu tranh gây ảnh hưởng của mình thông qua các tổ chức chính trị lên nhà nước và pháp luật nhằm tạo điều kiện cho chính mình và cộng đồng được phát triển tự do.

Nếu ta chấp nhận quyền con người bao gồm quyền sống (trong bình đẳng), quyền tự do và quyền sở hữu thì thực chất quyền dân chủ cũng là nội dung chủ đạo của quyền con người.

Minh Phiêu, Bordeaux
Mình cũng là nghiên cứu sinh về Luật, đang học ở Pháp. Đọc bài của bạn, mình có một vài ý như sau.

Thứ nhất, bạn đưa vào chủ thuyết Marx - Lenin để phát triển ý tưởng của mình. Điều này có lẽ là đương nhiên nếu bạn bảo vệ luận án ở VN. Nhưng sẽ khó chấp nhận nếu bạn làm ở các nước khác. Ở Anh hay Pháp cũng thế, bạn không bắt buộc phải theo chủ nghĩa Marx cũng như không phải từ bỏ nó trong việc suy tư. Nhưng bạn phải tham khảo các học thuyết khác với sự quan tâm xác đáng như nhau.

Việc bạn cho rằng nhà nước chỉ là một phạm trù lịch sử, và sẽ tự tiêu vong, và bạn cho nó như một tiền đề không chứng minh, là điều khó chấp nhận đối với những nền giáo dục mà ở đó nguyên tắc tự trị đại học đã được bảo đảm. Vì thế mình cho rằng bạn nên xem thêm các tư liệu khác.

Thứ hai, về hình thức của dân chủ, bạn nói "nội dung cốt lõi của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân hay sự kiểm soát của nhân dân đối với toàn bộ quá trình ban hành và thực thi các quyết định chung của chính thể nhà nước ấy."

Đây là điều dễ dàng thừa nhận, nhưng cách diễn giải về vấn đề lại có nhiều ý kiến khác nhau. Nếu cho rằng dân chủ là đa số phải thắng thiểu số, thì đó là cách hiểu quá thô sơ và dân chủ có thể thành công cụ của chuyên chế. Tiến sĩ Nguyễn Quang A có nhắc tới chuyện này mà mình tán đồng khi ông nói dân chủ ít nhất phải hiểu là: "Công nhận đầy đủ quyền công dân; thể chế nhà nước pháp quyền trở thành nguyên lí hiến pháp cơ bản; tư pháp độc lập; bầu cử dân chủ lựa ra những người cầm quyền; các cuộc bầu cử phải tự do và trong sạch; mọi người đều có quyền tự do nêu ý kiến, có tự do ngôn luận và có quyền tiếp cận nguồn thông tin khả dĩ khác; tự do lập hội, kể cả quyền lập tổ chức chính trị; và cuối cùng là sự kiểm soát dân sự đối với các lực lượng vũ trang. Đó là chế độ nơi những người bị trị có thể sa thải những kẻ cai trị mà không phải dùng đến bạo lực, và có các định chế cho việc chọn và phế truất những người cầm quyền sao cho những người cầm quyền khó có thể thay đổi các định chế này.”

Vài góp ý nho nhỏ với bạn.

Lê Thanh Sơn, TP. HCM
Dưới đây là phản hồi của Sơn. Tuy rằng có thể nó chưa đầy đủ nhưng Sơn cho rằng nó cũng khá rõ nét.

Tác giả đã có công đưa ra được nguồn gốc ngữ nghĩa của từ "dân chủ": dân chủ = quyền lực của nhân dân.

Trong "hình thức dân chủ" tác giả đã thừa nhận rằng xã hội nguyên thủy có "dân chủ công xã nguyên thủy là hình thức dân chủ trực tiếp" trong các bộ lạc và thị tộc; thì mặt khác tác giả lại nói rằng dân chủ trực tiếp chỉ ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ. Tác giả đã cố ý gán ghép giữa dân chủ và nhà nước: gắn liền sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của dân chủ với sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của nhà nước. Tác giả cho rằng dân chủ chỉ đơn thuần là một phương tiên để con người đạt được "tự do" _ dân chủ là tiền đề của tự do. Ở đây tác giả đã dựa trên quan điểm Maxist.

"...dân chủ chỉ nảy nở trong một xã hội vận hành theo nguyên tắc luật pháp và phân quyền có sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức và thiết chế phi chính trị, phi nhà nước...". Ở đây tác giả chỉ thừa nhận dân chủ tư sản là dân chủ mà chối bỏ các nấc thang dân chủ trước đó.

Tác giả cho rằng trong xã hội phong kiến thì không có dân chủ _ đó là xã hội dựa trên nguyên tắc cai trị của ý chí cá nhân tùy tiện và thao túng.

Điều này hoàn toàn sai lầm vì thực tế sau xã hội nô lệ thì xã hội phong kiến là một sự phát triển mạnh mẽ: qui mô sản xuất và trao đổi hàng hóa tăng vọt so với xã hội nô lệ; qui mô xã hội lớn lên rất nhiều so với trước đòi hỏi một mô hình quản lý xã hội mới. Xã hội không còn nô lệ và tự do hơn trước; dân chủ phát triển từ "quyền lực của công dân" được xã hội thừa nhận sau khi đã loại bỏ số đông các thành phần khác trong xã hội nô lệ trở thành "dân chủ theo đẳng cấp" ( cả xã hội đều có quyền, đẳng cấp cao có quyền nhiều, đẳng cấp thấp có quyền ít. Hội nghị Diên Hồng trong lịch sử Việt nam là một thí dụ rõ ràng về việc thực thi dân chủ).

Trong phần "dân chủ và tập trung dân chủ" thì tác giả đã chịu ấn tượng sâu đậm của chủ nghĩa Max khi đưa vào vấn đề "đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản".

Theo Sơn hiểu thì tác giả hình dung xã hội như một cái bánh tròn trong đó giai cấp tư sản là thiểu số (miếng bánh nhỏ) và giai cấp vô sản và các giai cấp khác là đa số (miếng bánh lớn).

Tác giả quan niệm rằng chỉ có giai cấp vô sản mới là "nhân dân" chứ không phải tất cả các thành viên toàn xã hội đều là "công dân như nhau"; và vì vậy khi nói đến dân chủ có nghĩa là quyền thống trị xã hội phải thuộc về tay giai cấp vô sản (nếu quyền lực thuộc về tay giai cấp tư sản thì giai cấp vô sản mất quyền lực và ngược lại).

Đây là quan niệm rất ấu trĩ và sai lầm. Tác giả cũng đã thừa nhận tập trung dân chủ là "con dao hai lưỡi" và không có cơ chế kiểm soát nó. Việc vận hành và giám sát nó là một công việc phó thác cho may rủi. Tác giả đã đề cao nguyên tắc đa số thắng thiểu số và cho thấy thực chất tập trung dân chủ chỉ là hình thức "tập quyền" thời phong kiến:" tập trung dân chủ có nghĩa là như một thuyền trưởng lèo lái con thuyền trong dông bão; ý chí quyết định của vị thuyền trưởng là chân lý, duy nhất đúng đắn và thực sự cần thiết".

TNPT, Đồng Nai
Ông Hoàng Nghĩa này là một người do nền giáo dục CS đào tạo nên không hiểu gì về "dân chủ" cả. Khái niệm "dân chủ" hoàn toàn trái ngược với khái niệm "tập trung" nên không thể ghép hai từ này như các chính quyền CS thường ngụy biện xưa nay mục đích là triệt tiêu chính kiến của người dân và thi hành chủ kiến của lãnh tụ mà thôi.

Nên hiểu quyền dân chủ của công dân Mỹ thì cũng giống như quyền dân chủ của công dân Việt Nam. Không thể nói là dân trí VN thấp để chính quyền thực thi việc coi tất cả ý kiến của một tập thể không có giá trị bằng ý kiến của giai cấp cầm quyền và ngụy biện là để ổn định chính trị.

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Hình thức của dân chủ
27 Tháng 3, 2006 | Diễn đàn BBC
Tiếp cận Đa diện về Dân chủ
24 Tháng 3, 2006 | Diễn đàn BBC
Đại hội X Đảng CSVN
20 Tháng 2, 2006 | Trang chuyên đề
'Cần xem lại điều 4 Hiến pháp'
20 Tháng 3, 2006 | Việt Nam
TRANG NGOÀI BBC
BBC không chịu trách nhiệm về nội dung các trang bên ngoài.
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân