|
Tiếp cận Đa diện về Dân chủ | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Các cuộc tranh luận về chính trị, xã hội hiện nay ở Việt Nam không thể tránh khỏi việc nhắc đến từ 'dân chủ'. Nhưng nên tiếp cận vấn đề Dân chủ như thế nào? Nghiên cứu sinh ngành Luật ở đại học Manchester Metropolitan, Hoàng Nghĩa, gửi cho đài BBC nhận định của anh. Bài viết sẽ được chúng tôi đăng thành ba kì. Khái nhiệm dân chủ Dân chủ là một phạm trù pháp lý-chính trị mang tính lịch sử sâu sắc. Cách đây hơn 2000 năm, nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại Herodote đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm dân chủ, trong tác phẩm Lịch sử, ông đã giải thích dân chủ là "quyền lực của nhân dân". Như vậy, dân chủ vốn là khái niệm xuất phát từ thời chiếm hữu nô lệ trong xã hội Hy La cổ đại nơi đã sản sinh ra nền dân chủ đầu tiên của xã hội loài người đó là Nền Dân chủ Athens, và nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến các trào lưu tư tưởng dân chủ sau này, nhất là từ thời Phục hưng trở đi. Dân chủ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là dêmocratia, tiếng Latin là dêmokratia, được tạo thành bởi demos nghĩa là quần chúng, nhân dân, và cratos nghĩa là chính quyền, quyền lực. Do đó dêmocratia là quyền lực của nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân hay quyền làm chủ của nhân dân. Khái niệm dân (nhân dân) ở đây đã loại trừ những người không phải là "công dân"-những người lao động, thợ thủ công, những người nô lệ-lực lượng đông đảo nhất trong xã hội. Tuy nhiên, khái niệm này đã gần như bị quên lãng cả trên lĩnh vực học thuật cũng như trong thực tiễn suốt thời kỳ chế độ phong kiến thống trị ngàn năm đêm trường trung cổ, và nó chỉ thực sự được phục sinh và trỗi dậy mạnh mẽ gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, của thời kỳ phục hưng những giá trị nhân văn thời kỳ cổ đại mà trước hết đó là những tư tưởng về tự do, dân chủ và nhân quyền. Do đó, khái niệm này dù là tiếng Pháp (démocratie) hay tiếng Anh (democracy) đều chỉ cùng một ý nghĩa nguyên gốc của tiếng Hy Lạp cổ và tiếng Latin- quyền lực thuộc về nhân dân. Ngay cả nhà tư tưởng khai sáng Pháp J.J Rousseau cũng quan niệm rằng dân chủ chính là sự thống nhất giữa chính quyền và nhân dân, là quyền lực của nhân dân được chuyển giao và thực thi bởi nhà nước. Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định. Là hình thức tổ chức chính trị của nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, như vậy dân chủ là một phạm trù lịch sử, cũng như các biểu hiện khác của hình thái ý thức xã hội, dân chủ do tồn tại xã hội quyết định, do phương thức sản xuất vật chất của xã hội quyết định, và do đó trình độ của phương thức sản xuất khác nhau tất yếu dẫn đến sự khác nhau về trình độ dân chủ (mức độ thực hiện dân chủ và dân chủ hoá trong xã hội). Hơn nữa, là một phạm trù lịch sử, dân chủ cũng sẽ mất đi cùng với sự mất đi, sự tiêu vong của nhà nước. Với ý nghĩa đó, dân chủ chỉ đơn thuần là một phương tiện tất yếu để con người đạt được tự do, sự giải phóng toàn diện những năng lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người được bảo đảm và thực hiện đầy đủ, và khi ấy con người, cùng với sự biến mất của nhà nước, của thiết chế chính trị-xã hội tiên tiến nhất và cuối cùng của loài người, bước sang một thế giới không phải còn là "vương quốc của sự tất yếu" nữa mà là "vương quốc của tự do". Với tư cách này, dân chủ đóng vai trò là phương tiện để đạt được tự do, sự giải phóng con người về mọi mặt, và như vậy, dân chủ là tiền đề của tự do. Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển của lịch sử nhận loại, có thể khẳng định rằng với sự xuất hiện và phổ biến của hình thức tổ chức thiết chế chính trị-xã hội mang tính dân chủ, và sau đó là dân chủ hoá, đã là một bước tiến vĩ đại của xã hội loài người trong con đường đi tìm sự giải phóng chính mình, tầm nhân vị của mình-giá trị đích thực và bản thể của chính con người. Mặc dù nó chỉ là một phương tiện để con người từng bước đạt được tự do, nhưng nó lại chính là tiền đề quan trọng để cá nhân -con người đạt được tự do, sự giải phóng và sự hiện thực hoá đầy đủ quyền của mình. Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị-xã hội tất yếu của bất kỳ một xã hội nào trước khi phủ định chính nó để bước sang một hình thức tổ chức thiết chế xã hội hoàn hảo nhất-hình thức phi nhà nước-chính trị, giai đoạn phát triển cao nhất của xã hội loài người-xã hội cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là xã hội xã hội chủ nghĩa. Dân chủ, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân Khác với hình thức khác của thiết chế nhà nước, trong thiết chế dân chủ, quyền của đa số, quyền bình đẳng của mọi công dân, tính tối cao của pháp luật được chính thức thừa nhận đồng thời các cơ quan quyền lực cơ bản là phải do bầu cử mà ra. Ở đây, pháp luật được xem là nguyên tắc tối thượng của việc xây dựng thiết chế, quản lý và điều hành xã hội, là nền tảng của trật tự xã hội và là chuẩn mực có tính chất cưỡng chế nhằm điểu chỉnh hành vi của các cá nhân và các quan hệ trong xã hội. Nếu không có sự đề cao nguyên tắc tối thượng của pháp luật thì sẽ không có dân chủ, hay đúng hơn là dân chủ không thể được nảy sinh và tồn tại trên nền tảng của một xã hội mà ở đó các quan hệ xã hội và hành vi của con người hầu như chỉ được điều chỉnh bởi các chuẩn mực đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán thuần tuý. Các chuẩn mực như vậy chưa thể tạo ra cơ sở pháp lý cho sự nảy sinh dân chủ, bởi lẽ những cam kết và chuẩn mực có tính chất chính trị, đạo đức, tôn giáo, phong tục không đủ vững chắc và bảo đảm cho việc thực hiện quyền tự do lựa chọn người đứng đầu quốc gia, chức sắc tôn giáo hay quyền tự do phế truất,...cũng như không thể giúp cho các công dân có quyền tự do ứng cử vào các cơ quan của nhà nước và chính quyền địa phương để tham gia vào việc giám sát, thực thi, điều hành và quản lý tất cả mọi hoạt động của xã hội và của nhà nước. Những điều này chỉ có thể được hiện thực hoá, một cách từng bước tuỳ theo trình độ phát triển của xã hội đó, ở trong một xã hội mà ở đó những cam kết về sự tự do của công dân hay cá nhân ấy phải được ghi nhận và quy định thành luật, nghĩa là trong một xã hội được tổ chức chặt chẽ bởi thiết chế luật pháp. Cả Thomas Hobbes, John Locke, Charles Montesquieu và J.J Rousseau đều cho rằng dân chủ chỉ có thể nảy nở trên một sự thoả thuận mang tính khế ước giữa công dân và nhà nước về việc hạn chế và phân chia quyền lực nhà nước để quyền lực ấy thực chất thuộc về nhân dân. Chừng nào, sự thoả thuận ấy bị phá vỡ, chừng ấy nhân dân có quyền xác lập một khế ước mới bằng cách nhiều cách khác nhau, và đó cũng hoàn toàn là quyền tự nhiên của con người. Mở đầu Khế ước xã hội, J.J Rousseau đã phải thốt lên đau đớn rằng, ‘con người sinh ra là tự do, nhưng ở đâu đâu anh ta cũng sống trong xiềng xích’ . Do vậy, cách tốt nhất để lấy lại sự tự do như là quyền tự nhiên thiêng liêng của con người đó chính là việc cần phải tổ chức lại thiết chế xã hội sao cho quyền tự nhiên ấy không bị xâm phạm và tước đi một cách tuỳ tiện từ phía nhà nước và bộ máy công quyền. Đối với Hobbes và Rousseau đó là sự thoả thuận bằng khế ước xã hội, đối với Locke và Montesquieu, đó là sự phân chia quyền lực nhà nước một cách độc lập và chế ước lẫn nhau. Do đó, dân chủ gắn liền trực tiếp với nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nền dân chủ không thể sản sinh dựa trên một xã hội dựa trên nguyên tắc cai trị của ý chí cá nhân tuỳ tiện và thao túng (chẳng hạn chế độ quân chủ và phong kiến). Trái lại, dân chủ là nảy nở trong một xã hội được tổ chức, thiết chế, và vận hành trên nguyên tắc luật pháp và phân quyền, cũng như có sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức và thiết chế phi chính trị và phi nhà nước đóng vai trò là lực lượng xã hội đối trọng nhằm giám sát và cân bằng với thiết chế chính trị và nhà nước trong việc thực hiện dân chủ. Một nền dân chủ không thể thiếu vắng vai trò của xã hội công dân vì nó chính là thuộc tính đặc trưng của nên dân chủ đích thực. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lý luận mác-xít: nhà nước và các thiết chế chính trị dần dần sẽ bị tiêu vong và thay vào đó là xã hội công dân và các thiết chế công dân phi chính trị và phi nhà nước. Phần hai: ............................................... Minh Phiêu, Bordeaux Thứ nhất, bạn đưa vào chủ thuyết Marx - Lenin để phát triển ý tưởng của mình. Điều này có lẽ là đương nhiên nếu bạn bảo vệ luận án ở VN. Nhưng sẽ khó chấp nhận nếu bạn làm ở các nước khác. Ở Anh hay Pháp cũng thế, bạn không bắt buộc phải theo chủ nghĩa Marx cũng như không phải từ bỏ nó trong việc suy tư. Nhưng bạn phải tham khảo các học thuyết khác với sự quan tâm xác đáng như nhau. Việc bạn cho rằng nhà nước chỉ là một phạm trù lịch sử, và sẽ tự tiêu vong, và bạn cho nó như một tiền đề không chứng minh, là điều khó chấp nhận đối với những nền giáo dục mà ở đó nguyên tắc tự trị đại học đã được bảo đảm. Vì thế mình cho rằng bạn nên xem thêm các tư liệu khác. Thứ hai, về hình thức của dân chủ, bạn nói "nội dung cốt lõi của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân hay sự kiểm soát của nhân dân đối với toàn bộ quá trình ban hành và thực thi các quyết định chung của chính thể nhà nước ấy." Đây là điều dễ dàng thừa nhận, nhưng cách diễn giải về vấn đề lại có nhiều ý kiến khác nhau. Nếu cho rằng dân chủ là đa số phải thắng thiểu số, thì đó là cách hiểu quá thô sơ và dân chủ có thể thành công cụ của chuyên chế. Tiến sĩ Nguyễn Quang A có nhắc tới chuyện này mà mình tán đồng khi ông nói dân chủ ít nhất phải hiểu là: "Công nhận đầy đủ quyền công dân; thể chế nhà nước pháp quyền trở thành nguyên lí hiến pháp cơ bản; tư pháp độc lập; bầu cử dân chủ lựa ra những người cầm quyền; các cuộc bầu cử phải tự do và trong sạch; mọi người đều có quyền tự do nêu ý kiến, có tự do ngôn luận và có quyền tiếp cận nguồn thông tin khả dĩ khác; tự do lập hội, kể cả quyền lập tổ chức chính trị; và cuối cùng là sự kiểm soát dân sự đối với các lực lượng vũ trang. Đó là chế độ nơi những người bị trị có thể sa thải những kẻ cai trị mà không phải dùng đến bạo lực, và có các định chế cho việc chọn và phế truất những người cầm quyền sao cho những người cầm quyền khó có thể thay đổi các định chế này.” Vài góp ý nho nhỏ với bạn. Lê Thanh Sơn, TP. HCM Tác giả đã có công đưa ra được nguồn gốc ngữ nghĩa của từ "dân chủ": dân chủ = quyền lực của nhân dân. Trong "hình thức dân chủ" tác giả đã thừa nhận rằng xã hội nguyên thủy có "dân chủ công xã nguyên thủy là hình thức dân chủ trực tiếp" trong các bộ lạc và thị tộc; thì mặt khác tác giả lại nói rằng dân chủ trực tiếp chỉ ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ. Tác giả đã cố ý gán ghép giữa dân chủ và nhà nước: gắn liền sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của dân chủ với sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của nhà nước. Tác giả cho rằng dân chủ chỉ đơn thuần là một phương tiên để con người đạt được "tự do" _ dân chủ là tiền đề của tự do. Ở đây tác giả đã dựa trên quan điểm Maxist. "...dân chủ chỉ nảy nở trong một xã hội vận hành theo nguyên tắc luật pháp và phân quyền có sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức và thiết chế phi chính trị, phi nhà nước...". Ở đây tác giả chỉ thừa nhận dân chủ tư sản là dân chủ mà chối bỏ các nấc thang dân chủ trước đó. Tác giả cho rằng trong xã hội phong kiến thì không có dân chủ _ đó là xã hội dựa trên nguyên tắc cai trị của ý chí cá nhân tùy tiện và thao túng. Điều này hoàn toàn sai lầm vì thực tế sau xã hội nô lệ thì xã hội phong kiến là một sự phát triển mạnh mẽ: qui mô sản xuất và trao đổi hàng hóa tăng vọt so với xã hội nô lệ; qui mô xã hội lớn lên rất nhiều so với trước đòi hỏi một mô hình quản lý xã hội mới. Xã hội không còn nô lệ và tự do hơn trước; dân chủ phát triển từ "quyền lực của công dân" được xã hội thừa nhận sau khi đã loại bỏ số đông các thành phần khác trong xã hội nô lệ trở thành "dân chủ theo đẳng cấp" ( cả xã hội đều có quyền, đẳng cấp cao có quyền nhiều, đẳng cấp thấp có quyền ít. Hội nghị Diên Hồng trong lịch sử Việt nam là một thí dụ rõ ràng về việc thực thi dân chủ). Trong phần "dân chủ và tập trung dân chủ" thì tác giả đã chịu ấn tượng sâu đậm của chủ nghĩa Max khi đưa vào vấn đề "đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản". Theo Sơn hiểu thì tác giả hình dung xã hội như một cái bánh tròn trong đó giai cấp tư sản là thiểu số (miếng bánh nhỏ) và giai cấp vô sản và các giai cấp khác là đa số (miếng bánh lớn). Tác giả quan niệm rằng chỉ có giai cấp vô sản mới là "nhân dân" chứ không phải tất cả các thành viên toàn xã hội đều là "công dân như nhau"; và vì vậy khi nói đến dân chủ có nghĩa là quyền thống trị xã hội phải thuộc về tay giai cấp vô sản (nếu quyền lực thuộc về tay giai cấp tư sản thì giai cấp vô sản mất quyền lực và ngược lại). Đây là quan niệm rất ấu trĩ và sai lầm. Tác giả cũng đã thừa nhận tập trung dân chủ là "con dao hai lưỡi" và không có cơ chế kiểm soát nó. Việc vận hành và giám sát nó là một công việc phó thác cho may rủi. Tác giả đã đề cao nguyên tắc đa số thắng thiểu số và cho thấy thực chất tập trung dân chủ chỉ là hình thức "tập quyền" thời phong kiến:" tập trung dân chủ có nghĩa là như một thuyền trưởng lèo lái con thuyền trong dông bão; ý chí quyết định của vị thuyền trưởng là chân lý, duy nhất đúng đắn và thực sự cần thiết". TNPT, Đồng Nai Nên hiểu quyền dân chủ của công dân Mỹ thì cũng giống như quyền dân chủ của công dân Việt Nam. Không thể nói là dân trí VN thấp để chính quyền thực thi việc coi tất cả ý kiến của một tập thể không có giá trị bằng ý kiến của giai cấp cầm quyền và ngụy biện là để ổn định chính trị. | CÁC BÀI LIÊN QUAN Dân chủ và quyền con người, quyền dân chủ03 Tháng 4, 2006 | Diễn đàn BBC Hình thức của dân chủ 27 Tháng 3, 2006 | Diễn đàn BBC Đại hội X Đảng CSVN 20 Tháng 2, 2006 | Trang chuyên đề 'Cần xem lại điều 4 Hiến pháp'20 Tháng 3, 2006 | Việt Nam 'Chức thủ tướng gây bàn cãi nhất'20 Tháng 3, 2006 | Việt Nam Chính trị VN khó có thay đổi lớn 15 Tháng 3, 2006 | Việt Nam Dự báo kinh tế Việt Nam 2006-0715 Tháng 3, 2006 | Kinh tế Nhóm lợi ích và tương lai Đổi Mới 12 Tháng 3, 2006 | Việt Nam TRANG NGOÀI BBC BBC không chịu trách nhiệm về nội dung các trang bên ngoài. | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||