Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
07 Tháng 4 2005 - Cập nhật 20h50 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Nghĩ về Việt Nam 30 năm qua và nhìn đến tương lai
 
Bắt đầu từ tháng Tư năm nay, Ban Tiếng Việt BBC Luân Đôn thực hiện một loạt các chương trình đặc biệt về chủ đề 30 năm cuộc chiến Việt Nam.

Chúng tôi cũng xin được mời quý vị chia sẻ những cảm nhận về những khía cạnh khác nhau về Việt Nam trong 30 năm qua.

Cuộc chiến tranh đã tác động thế nào đến các mặt trong đời sống của người dân Việt Nam? 30 năm qua, đã có những thay đổi gì và những gì chưa thay đổi tại Việt Nam?

Nhìn về tương lai, quý vị có những mong muốn, hy vọng gì cho người dân và đất nước?

Mời quý vị cùng chia sẻ những cảm nghĩ của mình trong bài viết có độ dài từ 500 - 1000 chữ trong tinh thần trao đổi quan điểm chân thành, tôn trọng dị biệt và khách quan với chính mình.

............................................................................

Giấu tên
Câu chuyện dưới đây, bạn tôi chưa biết, nhưng ngày nào đó rồi bạn tôi sẽ đọc nó. Khi đọc xong, bạn tôi sẽ tán đồng với tôi về điều mà chúng tôi chưa bao giờ nói ra.

Lên lớp 10, nhà tôi được chuyển về một vùng ngoại ô Sài Gòn hẻo lánh. Dần dần tôi mới biết có một bạn học trên một khóa ở gần nhà. Đó là Nam Đen, cũng mới chuyển về đây không lâu. Chúng tôi cùng học, cùng chơi và cả cùng ngủ với nhau. Riết rồi thân, chuyện gì cũng kể nhau nghe. Tới nỗi mẹ Nam nói, giời ơi, cứ tưởng là bọn này nó yêu nhau thì chết.

Có lần, chúng tôi bị những chàng côn đồ địa phương đánh hội đồng. Tôi bị chúng dùng cây phang vào trán sưng một cục to như trái ổi. May mà sau đó nhờ những trùm lớn hơn can thiệp, chúng tôi mới được yên thân.

Chỉ một năm sau, hai chúng tôi trở thành dân bản địa, bắt đầu có uy tín. Nhiều đứa sừng sỏ, là dân trốn lính hay bốc vác ở chợ Cầu Muối cũng nể vì. Tụi nó hay rủ rê và kể cho chúng tôi nghe vụ này vụ nọ trong xóm và nghe cách cư xử của chúng tôi.

Nhưng chiến tranh ngày càng khốc liệt. Những chàng cao bồi vườn bỗng trở nên hiền hậu hơn. Những tên tuổi mà chúng tôi quen biết được báo tử thường xuyên. Trong xóm ngày càng vắng bóng những chàng trai. Tất cả đều được lùa ra chiến trường.

Một ngày năm 1973, tôi gặp Nam và nói chắc chuyến này tôi phải bỏ học vô bưng. Đó là quyết định của tôi và gia đình. Tôi rủ Nam cùng đi. Nam buồn bã nói, hãy cho Nam một ít thời gian. Vài ngày sau, Nam nói không đi được vì nhiều lý do. Lúc đó tôi thấy cũng đúng. Vậy là tôi lên đường một mình.

Một năm sau, người nhà tôi vào thăm kể Nam sau đó cũng đi lính, đóng đồn ở Vĩnh Long, đạp phải mìn. Sau cơn thập tử nhất sinh, Nam bình phục và được giải ngũ vĩnh viễn. Khi nghe vậy, tôi thấy mừng vì dù sao Nam cũng còn sống sót trong khi tôi đã thoát chết mấy lần mà tương lai chưa biết ra sao. Nhưng phải nói rằng, sống trong bưng, dù rất cực khổ và nguy hiểm, tôi vẫn cảm thấy rất vui và hoàn toàn không hề sợ chết.

Sáng ngày 30-04-1975, nghe tin hòa bình, tôi trốn ra ngoài ruộng ngồi khóc một mình. Tôi khóc vì đã đủ sức hiểu từ nay bom đạn sẽ không còn cày xới quê hương nữa, máu sẽ không còn đổ nữa. Nhưng thật ra phần lớn hơn là tôi khóc cho tôi. Tôi biết mình đã được sống.

Ngày gặp lại Nam, chúng tôi mừng tủi kinh khủng, cảm thấy mình là những người may mắn nhất thế giới. Chúng tôi tự thưởng nhau một chầu bia hơi, đậu phọng. Bằng một nụ cười sung sướng, Nam cho tôi coi bụng Nam đầy những vết thẹo chằng chịt như một bàn cờ tướng. Còn tôi kể Nam nghe về sự khủng khiếp của bom đạn. Rồi chúng tôi cùng bắt đầu trải qua một cuộc sống mới đầy khó khăn.

Lúc ấy, chúng tôi còn quá trẻ để hiểu cuộc đời, chỉ thấy điều vui mừng được còn sống và chiến tranh đã trôi qua. Nhưng trong chúng tôi vĩnh viễn còn lại một nỗi buồn câm lặng. Là những người bạn thân thiết, chúng tôi trở thành người cầm súng ở hai chiến tuyến. Quả mìn nổ vào bụng Nam rất có thể do tôi đã gài. Viên đạn Nam bắn ra rất có thể đã sượt qua tai tôi. Tại sao thời đại lại bắt chúng tôi chịu đựng những thử thách vượt quá sức 18 tuổi trẻ trung và trong sáng?

Giờ đây, sau 30 năm, chúng tôi đã sắp là những ông già với một cuộc sống bình thường và trầm lặng. Mỗi khi gặp gỡ, chúng tôi thích nói về quá khứ, về thời học sinh. Người ta hay nói đó là qui luật tuổi già nhưng tôi không nghĩ vậy. Nói về thời trung học chẳng qua là chúng tôi muốn nhớ đến thời khắc dễ chịu nhất của cuộc đời. Chúng tôi muốn hưởng thụ bằng cách đó. Và luôn luôn, chúng tôi né tránh những câu chuyện chiến tranh.

Bình Minh, Hà Nội
Năm 1997 lần đầu tiên bước chân vào TP. HCM, cảm nhận đầu tiên của tôi là thành phố này sau một thời gian rất dài mà vẫn còn đầy những dấu vết chiến tranh. Đi trên đường phố, đôi khi vẫn bắt gặp những bốt gác, những căn cứ quân sự có từ thời chiến. Trên lan can cầu Sài gòn vẫn còn lỗ chỗ vết đạn....Đi đến đâu người ta cũng nói về thân nhân ở nước ngoài của ho. Đối với người SG, dường như chuyện ở Cali cũng giống như chuyện ở Thanh đa, Thủ đức vậy. Tôi gặp rất nhiều người không làm gì cả, và họ sống bằng tiền do thân nhân từ nước ngoài gửi về.

Vậy mà ngày nay đã thay đổi quá nhiều rồi, tôi không thể tìm đâu ra dấu về nào nữa, các căn cứ quân sự biến thành nhà hàng, khách sạn. Đi đâu người ta cũng kể chuyện Việt kiều này, ông chủ nọ từ nước ngoài về làm ăn.

Còn tương lai ư, tôi nghĩ 10 năm nữa thôi, chẳng còn ai nhắc lại chuyện quá khứ như bây giờ nữa. (Cũng giống như ở Thượng hải người ta không còn nhắc đến chuyện ra đi năm 49 nữa). Cuộc sống vẫn sôi động nhưng sẽ bớt căng thẳng hơn. TP HCM sẽ quốc tế hóa một cách mạnh mẽ. Trở thành một trung tâm kinh tế khu vực là một giấc mơ không tưởng, nhưng TP sẽ gần gũi hơn với các thành phố trong vùng như Bangkok, singapore hay Hongkong.

Những ông chủ ở thành phố sẽ gửi tiền sang Cali để nuôi bố mẹ họ. Những người trẻ tuổi không những ở VN, mà còn ở CPC, Phi, Thái sẽ tìm cơ hội lập nghiệp của họ ở đây. Người phương Tây sẽ không còn cảm thấy xa lạ khi đến đây nữa....

Đặng Bảo, Anaheim, Hoa Kỳ
Sau gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp, cao trào tranh đấu dành lại độc lập và tự do của người dân dâng cao. Các đảng phái trong đó có người quốc gia và cộng sản, thay vì thực tâm liên kết, thì lại ngấm ngầm hãm hại nhau để người của đảng mình độc quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến dành độc lập. Hơn nữa thay vì đặt quyền lợi người dân lên trên hết thì những người lãnh đạo cuộc kháng chiến lúc đó lại để tham vọng cá nhân và phe nhóm lấn át, và đeo đuổi một chính sách khủng bố, áp đặt, và xâm lăng đưa đến thảm họa cho người dân ở hai miền Nam Bắc trong 3 thập niên kể từ những năm 1945 đến 1975.

Sự phân hóa, chia rẽ, hận thù giữa những người Việt trong cũng như ngoài nước kéo dài không biết bao giờ mới chấm dứt. Đất nước, vì thế, theo thống kê của Liên Hiệp Quốc đang bị liệt vào những nước nghèo nhất thế giới mặc dầu đã 30 năm thống nhất.

Chỉ khi nào ý kiến của đa số 82 triệu người dân thuộc 3 miền Bắc Trung Nam được tôn trọng qua một cuộc phổ thông đầu phiếu trong bầu khí tự do, dân chủ dưới sự quan sát quốc tế để đất nước có một bản Hiến Pháp ấn định thể chế, guồng máy chính quyền, nhiệm vụ và quyền lợi của người hay đảng lãnh đạo.

Bao lâu người dân chưa có những sinh hoạt tự do, dân chủ tối thiểu này thì bấy lâu lịch sử và thế giới vẫn nhìn những người lãnh đạo hiện nay là một nhóm độc tài. Người dân Việt từ cổ chí kim được hướng dẫn và thấm nhuần Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Họ sống đời hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; trung với nước; biết đoàn kết; yêu thương và nâng đỡ nhau. Riêng người quân nhân được rèn luyện thêm về dũng cảm và hy sinh với mục đích duy nhất là để xả thân giữ nước và bảo vệ dân không hơn không kém.

Thành phần cựu hay đương nhiệm quân nhân kỷ luật và phi-chính-trị này trước hay sau của cả hai miền chắc chắn không để cho bất cứ người hay đảng cầm quyền lợi dụng để củng cố thế lực riêng; ngoại trừ nhiệm vụ giữ nước và bảo vệ người dân.

Để cụ thể hóa hy vọng những ngày sắp tới mặc dầu có thể gặp khó khăn hay hiểu lầm các cựu hay đương nhiệm quân nhân thuần thúy và phi-chính-trị như đề cập ! trên trước và sau cuộc chiến Việt Nam hãy mạnh dạn và làm gương trong việc kết thân và trở nên bạn hữu với nhau; có thể bắt đầu bằng cá nhân, gia đình, hay một nhóm nhỏ, và sau đó lan rộng ra.

Lịch sử trong nửa thế kỷ qua tức là 50 năm trở lại đây, tất cả các quốc gia bị trị đã lấy lại được chủ quyền; nhiều quốc gia không phải tốn một giọt máu vì có sự đoàn kết và thực tâm của các phe nhóm. Hơn 10 năm gần đây chủ nghĩa Cộng Sản và độc đảng tại Nga, Ba Lan, Đông Đức đã nhượng bộ. Mới đây Georgia và Ukraine và ngay cả những chính quyền Hồi Giáo quá khích ở Afghanistan và Iraq cũng bị thay thế để sửa soạn cho sự tự trị quốc gia Lebanon và thành hình quốc gia Palestine. Các chế độ quân chủ chuyên chế, đế quốc, thực dân, độc tài, độc đảng, độc tôn, quân phiệt đã và đang lùi vào dĩ vãng.

Giờ đây ở vào những năm đầu của Thế Kỷ 21 thế giới chỉ còn lại vài quốc gia độc đảng trong đó có Viêt Nam; nhưng các quốc gia này cũng được cộng đồng thế giới khuyến cáo trong việc dân chủ hóa. Vì thế mọi người dân Việt khắp nơi trong hay ngoài nước hãy luôn vững tin, tiếp tục rèn luyện Nhân, Lễ Nghĩa Trí, Tín để sửa soạn cho một thay đổi trọng đại trong những tháng ngày sắp tới của đất nước. Ngày này phải là ngày vui mừng và ghi nhớ của mọi thế hệ con dân nước Việt. Vì ngày này sẽ mãi mãi là ngày thương yêu, đoàn kết, xây dựng, tha thứ và hàn gắn những vết thương của dân tộc.

Minh, TP. HCM
Không một cá nhân nào được phép quên lịch sử của quê hương mình. Nhưng hên xui, sướng khổ của quá khứ là những chuyện chẳng ai thay đổi được nữa. Lịch sử không bao giờ mỹ mãn cho mọi phía. Vậy mất thời gian bình luận quá nhiều để làm gì? Những người suốt ngày thù hận với chuyện đã qua chỉ tự làm khổ mình, thậm chí gây phản cảm trong giới trẻ.

Các trí thức trong và ngoài nước hiện rất bức bối với những tật xấu của người Việt, một “Người Việt xấu xí” đã được nhiều người chuẩn bị. Tuy nhiên, tôi thấy cái đáng làm hơn lại xuất phát từ chính bản thân những người này. Họ hầu như không thể cộng tác được với những người khác, vì nhiều thứ khác biệt không thể dung hòa được, một trong những tật xấu nhất mà chính họ đang muốn luận bàn. Hãy vì cái đích chung. Và hơn nữa, người vượt qua chính mình mới là người vĩ đại nhất.

Trách nhiệm của người Việt hôm nay là cùng nắm tay chung sức, vì tương lai của chính chúng ta và vì của cộng đồng thương mến. Cái xã hội còn đang chưa thật định hình lại là cơ hội lớn cho chúng ta đóng góp. Tôi và nhiều người khác nữa đều hy vọng, thậm chí tin rằng dù những Việt kiều thế hệ 2, 3 không nói sõi tiếng Việt, nhưng niềm tự hào dân tộc vẫn nằm trong máu họ. Và dù ở nơi đâu, dòng máu đó vẫn thôi thúc họ khẳng định bản thân, và cùng hướng về một nơi mà bản năng buộc họ không thể nào quên. Chỉ ý nghĩ đó thôi cũng đủ để lòng ta rộng mở, khóe mắt ta nhăn lại với cái nhìn trìu mến hơn vào tương lai.

Tường Vi
Tôi muốn kể lại một tư tưởng khác thường của bà cô của tôi, những ngày tôi theo mẹ về thăm VN cách nay gần 6 năm. Khi tôi hỏi về những người đã khuất trên bàn thờ gia tộc, cô nói thời ông cố nội tôi từ 1945 trở về trước là "thời để chống thực dân và thời để chết", thời ông nội tôi từ 1954 về sau là " thời để tranh chấp và thời để chết" , thời vợ chồng cô từ 1965 về sau là " thời để yêu trong chiến tranh và thời để chết ", rồi thời các con cô sau 1975 là "thời để vượt biên và thời để chết" .

Bây giờ cô sống goá bụa, tôi hỏi bây giờ là thời gì ? Cô nói "thời để nguyện cầu cho nhiều thứ đã mất". Tôi bảo "Giờ cháu thấy có nhiều cái mới lắm rồi", cô lại bảo nó mới, nó khá vì tôi chưa hề thấy, còn với cô nó là những thứ đã mất đi nay làm lại được, nhưng còn thiếu nhiều lắm. Có phải ở VN ai cũng suy tư phức tạp, và sống bên những người đã khuất u buồn như cô tôi ?

Công nhân viên
Tôi hiểu ý bạn Vũ Sinh " dù bất kỳ chế độ nào, nếu không dựa vào bản thân, dựa vào cái gốc của chính mình thì đừng mong có thay đổi..." tuy nhiên lý lẽ của bạn hạn chế, không lý tới những ảnh hưởng to lớn của thế chế, luật pháp xã hội luôn tác động lên con người, gia đình và xã hội mà những nhà đấu tranh chính trị luôn luôn hứa hẹn.

Tôi trộm nghĩ có lẽ bạn muốn khuyên người ta đừng bận tâm đến chuyện xa vời thể chế nào, chính quyền nào làm gì, cho dù Mỹ xâm lăng, cho dù Tây đô hộ cũng chả sao, không liên quan đến mỗi cá nhân, cứ cam tâm mà phấn đấu cho bản thân. Xin cám ơn liều thuốc an thần của Vũ Sinh.

Vũ Sinh, Hà Nội
Theo tôi, chiến tranh chắc chắn có sự phân ly cũng như thay đổi về giai cấp xã hội. Ngay như gia đình họ nội của tôi, ông và các bác là viên chức thường thường cho chính quyền Pháp trước năm 54 và sau này đến giờ vẫn là công chức thường thường trong chế độ CS, không có gì thay đổi. Còn về đàng ngoại, anh em của bà tôi cũng có người tham gia CS, nhưng rồi cai cách 54 cũng có người bị xử bắn và di cư vào Miền Nam.

Thực tế cuộc sống bây giờ và từ 54-75 của họ cũng không được mỹ mãn cho lắm và phần nhiều cũng hy vọng vào viện trợ bên Mỹ. Sơ lược như vậy có thể thấy, cuộc chiến có thể làm thay đổi về giai cấp nhưng thực tế, sự thay đổi phần nào là do phấn đấu bản thân mình. Tôi nghe kể chuyện, sau 54, nhiều bần cố nông được phân ruộng nhưng sau đó cũng lười biếng rồi cuộc đời họ, con cháu họ cũng chẳng khá giả lên. Còn giai cấp tư sản, trí thức năm 54 bị thu nhà, đánh lên đánh xuống, nhưng con cháu họ vẫn có nề nếp học tập thì bây giờ họ cũng thành đạt, giàu có cả. Như vậy có thể thấy, dù bất kỳ chế độ nào, nếu không dựa vào bản thân, dựa vào cái gốc của chính mình thì đừng mong có thay đổi dù 30 hay 300 năm nữa.

Trần T.
Câu chuyện của anh Trần Minh là câu chuyện chung của rất nhiều gia đình đặc biệt là những gia đình di cư 54. Cha tôi là người con trai duy nhất vào Nam. Sau 75 cha tôi đi tù hơn 10 năm. Tôi là người duy nhất lưu lạc. Anh em của cha tôi đã ở lai miền Bắc. Họ đã chịu nhiều cơ cực, cũng may sau 75 con cháu họ đã kéo nhau vào miền Nam và họ đã vươn lên được trong cấp xã hội hiện tại. Các em tôi thì còn ở lại VN, và vẫn đang cơ cực.

Có lẽ phải 30 năm nữa thì con cháu của các em tôi mới có thể vươn lên được chứ bây giờ thì đời các em tôi coi như bỏ đi. Các bạn đã hình dung được gì rồi chứ. Phải ngàn kiếp sau gia đình những người trẻ và trung lưu ở hải ngoại mới kéo nhau về VN. Vì đâu và vì ai?

Trần Minh, Việt Nam
Các bạn nói là phản ánh cuộc chiến ở mọi góc độ. Thế nhưng tôi thấy còn thiếu một góc rất tế nhị mà chưa nghe ai nói tới. Đó là sự thống nhất luôn luôn đi kèm với sự đoàn tụ.

Ba tôi là một viên chức hành chánh của chính quyền VNCH. Vì đã thôi làm việc được 5 năm nên theo luật hiện hành ông không phải đi học tập mặc dù vẫn bị kiểm soát chặt chẽ của công an phường khóm. Tôi có hai anh là lính VNCH. Anh lớn thuộc binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến, anh thứ hai là phi công.Lá thư cuối cùng gia đình nhận được của người anh thuỷ quân lục chiến là từ Huế. Khi Huế thất thủ gia đình hoàn toàn mất liên lạc.Ông anh phi công trong những ngày Sàigòn hấp hối luôn luôn túc trực ở phi trường Tân Sơn Nhất.

Thế rồi khi đã làm thủ tục xong xuôi chỉ ! còn chờ ngày ra nước ngoài, anh ấy ghé qua nhà từ giã gia đình.Khi vừa sắp bước vào nhà thì nghe tin Tân Sơn Nhất đã bị tấn công.

Anh ấy khuỵu xuống trước ngưỡng cửa khuôn mặt hoảng hốt và tuyệt vọng. Khuôn mặt ấy đọng lại trong ký ức tôi ròng rã suốt 30 năm trời, càng trở nên rõ ràng hơn mỗi lần gần đến 30-4. Anh ấy sau đi học tập với niềm hy vọng là sẽ được trở về sớm nhưng rồi đã không bao giờ trở về.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi, một hôm tôi được nghỉ học bất ngờ hai tiết cuối nên về nhà sớm. Khi đi ngang qua phòng của ba má, chợt nghe má tôi vừa khóc vừa nói:"Có bao giờ hai đứa con trai của mình tụi nó chết hết rồi không? Ba tôi trấn an má:"Tụi nó không chết đâu! thế nào cũng có tin thôi!"Vậy đó! ba má tôi đã không dám chấp nhận sự thật là hai anh tôi không còn nữa. Họ sống trong sự mòn mỏi ợi chờ và hy vọng.

Thế rồi hơn một năm sau 75 gia đình tôi nhận được lá thư của người anh họ con của bác tôi(người mà ba tôi đã ra sức tìm kiếm và ao ước được gặp mặt) ở ngoài bắc gởi vào. Trong thư anh ấy báo bác đã mất và sẽ vào thăm ba tôi ngay.

Cái ngày được tin anh ấy đến ba tôi cứ đi ra đi vào không yên đến chiều thì đứng luôn ngoài cổng để chờ. Khi thấy một người bộ đội xuất hiện ở đầu đường ba tôi vội chạy ra, người ấy hơi khựng lại rồi họ ôm chầm lấy nhau. Một lúc lâu họ mới rời ra, lau nước mắt và dắt tay vô nhà. Sau này tôi hỏi ba tôi rằng:" Ba và bác xa nhau đã lâu, ba không biết mặt anh ấy mà đã vội chạy ra như vậy không sợ lầm với mấy ông bộ đội ở khu trại bên kia đường hả ba?"

Ba tôi nói giọng chắc nịch:"làm sao mà lầm được! dáng người và tướng đi y chang ông anh ba mà!" Sau đó ba còn tâm sự rằng khi ôm anh ấy ngửi mùi mồ hôi cùng với bụi đường xa ba tôi ngỡ là mình đang ôm anh tôi mỗi khi từ chiến trường về!

Nhìn thấy một VC đột ngột xuất hiện trong nhà mình thú thật tôi hơi bị "sốc" nhưng khi anh ấy bỏ nón ra nhìn kỹ tôi thấy anh ấy có nụ cười và ánh mắt giống y hệt anh hai tôi nên từ từ tôi không còn e ngại nữa.

Khi ngồi hàn huyên tâm sự ba tôi được biết anh ấy có người em hy sinh tại Quảng Trị và anh ấy cũng biết anh tôi đã từng có mặt tại đó trong những ngày ác liệt nhất của cuộc chiến.

Không khí bỗng chùng xuống tôi nhận ra sự đau buồn thầm lặng hiện rõ trên mặt họ. Sau này mỗi lần nhìn hình ảnh của hai anh trong Album gia đình anh ấy cứ chép miệng thở dài tiếc rằng không được gặp hai anh tôi.

Cuộc đời thật là trớ trêu! Xúc động vì những giây phút đoàn tụ ấy, khi chứng kiến cha mẹ mình lại tìm thấy nguồn an ủi, nhìn lại hình bóng thân yêu của con mình qua một người ở phía bên kia chiến tuyến tôi làm bài thơ như sau: Một ngày thôi tiếng súng, Trên chuyến tàu bắc nam, Trong màu áo "quân thù", Người tìm đến thăm tôi. Hình như con sống lại, Con đã về đấy ư? Ánh mắt người rực sáng, Đôi môi cười rất tươi. Trên vai người thổn thức, Nghe ra mùi thân quen, Mùi mồ hôi vương áo, Khi con hành quân xa. Ôm "quân thù" tôi khóc, Nghe niềm đau vơi dần, Ôi phút giây lạ lùng! Cả một trời hạnh phúc, Đang quay cuồng trong tôi!

Trần Tâm, Hoa Kỳ
Tác động với nguời dân miền bắc thì quả là tác động rất lớn đến đời sống vật chất. Kể từ 1990 thì nguời dân miền bắc đã đuợc tự do dùng dao phay để chặt thịt gà thay vì phải đóng cửa và dùng kéo để cằt con gà. Miền bắc hiện nay đã nhiều nhà có điện, có xe máy, có truyền hình màu, có diện thọai dù là ở nhà quê. Nói chung là ba cái vật qúy hiếm như đồng hồ đeo tay không nguời lái, cái xe đạp, cái đài (radio) không còn là mối quan tâm hàng đầu.

Ở nhà quê cũng thế, cái ăn qủa là dù chưa ngon nhưng cũng no. Cái mặc thì chưa có đẹp nhưng không phải vá chặt vá đùm như những ngày xưa.

Đến năm 1985 Sàigòn đã lóang thóang có tà áo dài mang màu sắc không phải là màu đen hay màu lá úa. Mì sợi, bo bo, bột lien xô đã mất hẳn thị truờng. Nhiều gia đình tan nát do chính sách cải tạo nhân viên và sĩ quan chế độ cũ và tư sản cũng dần dần hồi phục và vuơn lên trong giới hạn. Chưong trình ra đi có trật tự và chuơng trình ra đi định cư tại Mỹ của các nhân viên chính quyền và sĩ quan chế độ cũ đã giảm bớt áp lực chính trị va giúp khôi phục kinh tế cho Việtnam.

Miền nam hôm nay thì có thể nói là đã khôi phục đuợc mức sống của thời gian truớc 1975. Nói chung là về mức sống thì có thay đổi đuợc rồi. Sự thay đổi này là do nguời dân cố gắng tạo cho mình bằng cứ xông ra làm đại. Nếu nhà nuớc cấm thì lại rẽ ngõ khác mà làm tiếp chứ nhà nuớc chẳng huớng dẫn gì cả. Bị bắt, bị tịch thu, hay cấm thì lại xoay ra cái khác mà làm. Không phải là nhờ sự quan tâm của đảng và nhà nuớc như báo đài ở VN hay loan tin.

Hiện nay cả trong nuớc lẫn ngòai nuớc xôn xao về đòan kết và xóa bỏ hận thù. Chung sức nhau để VN thóat ra khỏi cái nhục nghèo và lạc hậu. Kể từ năm 1989 số luợng nguời VN ở nuớc ngòai đã rải rác trở về VN thăm thân nhân cũng như thăm dò chuyện làm ăn bất chấp luật cấm vận VN vẫn chưa đuợc hủy bỏ chứng tỏ là nhiều nguời đã quên đi những bất đồng ngày truớc và những lý do họ phải bỏ nuớc ra đi. Con số này tăng nhanh sau khi luật cấm vận Việtnam đuợc hủy bỏ và Mỹ thiết lập quan hệ ngọai giao với VN.

Phía chính quyền trong nuớc dù là phản ứng chậm hơn những cũng đã đưa ra cả nghị quyết, đặc biệt là cả chuơng trình con lạc cháu hồng trên truyền hình, chuơng trình đón nguời việt nuớc ngòai về ăn tết quê hương, gần đây nhất là tăng cuờng thông tin về nguời Việt định cư ở nuớc ngòai.

Tuy nhiên đa số nguời Việt ở nuớc ngòai vẫn chưa tin tuởng đuợc những mời gọi của phía chính quyền Việtnam vì nhiều lý do chứ không phải là sự thù hằn với VN mà họ đã trải qua nhiều kinh nghiệm không tốt của chính quyền VN đối với họ.

Phía chính quyền VN thuờng đưa ra lời giải thích là đuờng lối và chính sách của đảng không phải là như thế nhưng do cấp duới nhiều nơi chưa quán triệt nên đã hành xử chưa đúng. Thực tế cho thấy là dù đã nhiều lần nhắc nhở và xây dựng quyết tâm nhưng các cấp cán bộ thừa hành vẫn chưa có tiến bộ. Những bộ mặt thiếu thiện cảm và hành vi xin “đểu” có hệ thống vẫn còn tồn tại. Nhân viên cấp phuờng và quận vẫn tạo nhiều khó khăn cho nguời Việt sống ở nuớc ngòai về thăm nhà cũng như kinh doanh.

Một cây thuốc lá ba số năm cho công an khu vực khi đang ký tạm trú là thủ tục không thể thiếu nếu muốn yên thân ở nhà với thân nhân. Dù là đã nhận đủ thủ tục đầu tiên nhưng các nhân viên chính quyền vẫn làm nản lòng những nguời Việt trở về qua những câu hỏi mang đầy tính ngờ vực. Phải chăng là họ đã học tập nhuần nhuyễn cách đối xử với nguời Việt sống ở nuớc ngòai đến độ là dù cho chỉ thị mới có thay đổi đến thế nào đi nữa.

Để kết luận, nhìn về tuơng lai thì nguời dân VN sống trong nuớc vẫn phải sống, và cũng vì miếng cơm manh áo mà buơn chải luồn lách để mà sống còn. Nguời dân Việtnam sống ở nuớc ngòai vẫn tiếp tục sống ở nuớc ngòai và chia sẻ cho thân nhân hay bạn bè những gì họ dư thừa và đi du lịch VN. Còn việc thanh niên và trung niên trí thức hay chuyên viên mà ồ ạt bỏ tất cả cuộc sống ổn định và tuơng lai truớc mặt đem gia đình về Việtnam thì là chuyện của ngàn kiếp sau.

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân