Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
29 Tháng 3 2005 - Cập nhật 23h24 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Biết những ngày sống là hạnh phúc
 
Tiếp tục chuỗi câu chuyện kể về những kỷ niệm liên quan biến động trong lịch sử Việt Nam 30 năm qua, chúng tôi xin giới thiệu bài của độc giả lấy nickname là An Trường (nói rằng đây là tên trại học tập mà ông đã ở).

Ông An Trường nhìn thời thế từ góc nhìn của một người lớn tuổi, đã trải qua những thăng trầm từ vị trí sĩ quan, rồi đi qua trại cải tạo, sau lại bôn ba kinh tế mới.

Giờ đây, ông An Trường cho biết con trai làm rể ông quản giáo cũ, "hai ông xui gia thuờng nhậu với nhau, nhắc chuyện cũ, cả nhà cười ra nước mắt."

Mời quý vị chia sẻ kỷ niệm của mình qua bài viết có độ dài từ 500 - 1000 chữ. Nội dung là suy nghĩ của quý vị về một khía cạnh liên quan Việt Nam 30 năm qua - cảm nhận về một Việt Nam hôm qua, hôm nay.

Những ngày tháng Ba này của 30 năm trước tôi còn là một đại úy quân đội miền Nam. Tôi muốn được tâm sự đôi điều để những người từng là đối nghịch bên này, bên kia hiểu lẫn nhau. Nếu có sự gì phiền thì cũng ngoài chủ ý, lớp tuổi tôi già rồi, bất tài, không tham vọng, và cũng không có gì để tiếc nuối, dân tộc là trên hết.

Tôi kỳ vọng lớp thanh niên, đảng viên, quân nhân trẻ, những người VN nắm cơ hội của đất nước hôm nay nhìn lại hoàn cảnh của đất nước mình, của thế hệ hơn 30 năm trước làm kinh nghiệm, để phục vụ đúng đắn cho dân tộc.

Đơn vị tôi ngày đó là sư đoàn 22 bộ binh, đồn trú gần Quy Nhơn, chúng tôi thường hành quân khắp vùng 2 từ Tuy Hoà đến Bồng Sơn, lên tới Pleiku,Phú Nhơn, Phú Bổn, Kontum, Dakto, Daksut.

Một trong những đối thủ ngang ngửa của chúng tôi lúc bấy giờ là sư bộ 320 Sao Vàng của miền Bắc.

Tôi không muốn dài dòng nhắc lại chuyện hơn thua mặc dù còn nhớ rõ những biến chuyển của cuộc chiến.

Tôi đã bị bắt trên bờ biển Quy nhơn, ngày 29 tháng Ba năm 1975, sau hai ngày sư đoàn chúng tôi chống trả lẻ loi, không ai màng yểm trợ.

Sau gần một tháng nằm tù thoi thóp trong Trung tâm cải Huấn Quy Nhơn với buông xuôi chấp nhận "vận nước đã đến rồi", tôi mong chiến sự sớm kết thúc, cầu gặp lại mẹ tôi, vợ con tôi sau những năm dài chinh chiến.

Những ngày cuối tháng Tư nếu đồng đội của tôi đang cố gắng chống trả để bảo vệ một Sài Gòn hỗn loạn, thì trong tù ở Quy Nhơn tôi lại mong cho họ sớm chấp nhận thua. Tôi bối rối bởi những loa phóng thanh phát tin từ Hà Nội, tôi khiếp nhược bởi hàng trăm chiến xa T54, hàng trăm khẩu sơn pháo từ miền Bắc chuyển vô được tập trung hàng đêm quanh trại tù chờ tiếp tục tiến về Nam.

Tôi biết trong vòng vây như thế, thành phố sẽ tan nát, dân Sài Gòn sẽ chết, rối loạn thêm rối loạn,... mà rồi cũng phải thua Thôi thì thống nhất bất cứ giá nào, chiến tranh đã làm đất nước quá kiệt kệ, đã gieo tang thương cho nhiều thế hệ Việt Nam, CS thì cũng là con người, tôi đã suy nghĩ thế.

Sáng 30 tháng Tư tin ông tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, nhiều người trong chúng tôi hụt hẫng, tuyệt vọng,và đã khóc, nhưng phải thông cảm cho ông ta vì chính chúng tôi cũng là những kẻ bất lực, muốn chấm dứt sự căng thẳng phải đợi chờ những gì tàn khốc nhất.

Tôi thương cảm, tủi hổ khi nghe kể những binh sĩ miền Nam đã phải cởi bỏ quân phục thay bằng đồ dân sự, và đau lòng hơn nữa kể từ đó chúng tôi thành những tên phản quốc!

Sau đó ngày nào trung tâm cũng nhập thêm nhiều tù mới, họ là sĩ quan, là giáo chức biệt phái được trở về từ Sài Gòn, nhưng tới Quy nhơn thì bị nhốt lại, tổng số lên đến 6,7 trăm người,bao gồm cả những binh sĩ, hạ sĩ quan bị bắt trên bờ biển.

Tất cả sống chen chúc, ăn uống dơ bẩn và kham khổ, bị mạt sát mỗi ngày, mà không biết số phận sẽ ra sao.

Cho đến khi thống nhất hết miền Nam, chúng tôi được bước vào những bài học căn bản về chế độ, về lịch sử, rồi một hôm ông tỉnh đội trưởng Bình Định đến phủ dụ ".... sẽ có ngày chúng tôi và các anh sẽ cùng chung một chiến hào, chúng ta sẽ còn tiếp tục giải phóng các dân tộc anh em, trong đó có cả dân tộc Mỹ... " Nghe càng thêm tuyệt vọng vì ông không hứa hẹn một ngày nào phóng thích.

Qua báo chí lúc bấy giờ là tờ Sài Gòn Giải Phóng và tờ Tin Sáng chúng tôi cũng biết ban quân quản thành phố HCM quy định thế nào về thời gian trình diện học tập cho các cấp quân dân chính của miền Nam , và cũng mong được dễ dàng như quy định, tôi chấp nhận cải tạo là việc đương nhiên của bất cứ chính quyền nào trong trường hợp tương tự.

Thế nhưng vào trung tuần tháng Sáu , khi kỳ hạn trở về của các sĩ quan cấp tá sắp mãn, một biến cố phản động không rõ ràng lắm phát hiện tại nhà thờ Vinh Sơn trên đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn đã khiến chúng tôi thầm hiểu đó sẽ là lý do ngày về rất mù mờ.

Tôi trải qua lần luợt 5 trại tù, chỉ ở Trung Tâm Cải Huấn Quy nhơn là chúng tôi bị vây hãm 3 tháng trong bốn bức tường cao, sau đó ra Gò Bồi đắp đê ngăn mặn, 4 tháng trời sống trên cù lao hoang, ngày 10 tiếng ngâm mình dưới nước, móc xình,đào đất, khiêng đá đắp đê,hy vọng một ngày về chính thức, không có ai vì đói khổ mà dám bỏ trốn.

Tiếp theo 6 tháng trên núi rừng Vĩnh Thạnh, chặt cây, đốt rừng làm rẫy, đào huyệt chôn bạn bè bất hạnh ....

Chẳng nơi nào tôi ở tù nhà nước tốn một vòng vây kẽm gai, ai còn sức sống thì vẫn hy vọng lao động tốt sẽ có ngày về. Ai còn có được vợ con thăm nuôi thì còn hy vọng để sống, còn ý thức chấp hành tốt cho vợ con hy vọng.

Sau đó tôi đổi xuống An Trường hơn một năm,v tự vây kẽm gai vài ba sợi để phân giới hạn, tự làm lấy mái tranh che nắng mưa, tự chặt củi đốt rừng làm rẫy nuôi thân, lâu lâu được học tập bồi dưỡng tinh thần, nhưng còn mệt xác hơn là lao động.

Rồi phấn đấu lao động tốt, sau 3 năm hơn hai tháng tôi đã được tự do.

Tôi khai về gia đình ở Phan Thiết, không ngờ trước đó vợ tôi đã đem con về cha mẹ ở Phan Rang, may, bán áo quần trẻ con và đã có hộ khẩu ở đó.

Nhưng nhờ thế tôi đã tìm cách chỉ mình tôi lên Gia Nghĩa đi kinh tế mới.

Mấy năm học tập, giúp tôi biết chặt cây làm chòi, cuốc đất trồng khoai, sắn, lâu lâu nhớ vợ, cần thêm gạo, mắm muối thì xin phép cán bộ nông trường về Phan Rang, Phan Thiết mấy ngày, thế mà thấm thoát được 3 năm, vợ tôi sanh thêm hai cháu gái.

Nếu không có mấy năm học tập, tôi không biết những ngày sống như thế là hạnh phúc, mặc dù nhìn lên không bằng ai, nhưng nhìn xuống vẫn còn đông lắm.

Ba năm lủi thủi kinh tế mới, thiếu dinh dưỡng, bịnh tật, chẳng lo được gì cho vợ con. May mắn vợ tôi giỏi buôn bán, chạy chọt được hộ khẳu vô Bình Chánh, Sài Gòn để các con có chút tương lai . Thế là tôi trốn theo, sống lén lút với vợ con không có hộ khẩu cho tới bây giờ!

Cũng vì thế khi có chương trình HO cho tù cải tạo tù 3 năm đi Mỹ, tôi làm gì có giấy tờ hợp lệ, mặc dù vợ tôi là "nữ hoàng chạy chọt" mà vẫn sợ bể mánh thì tôi lại vô tù.

Bây giờ tôi không dám nhìn xuống, sợ không còn thấy ai!

Nhưng cũng an ủi, các cháu bây giờ đã lớn và thành đạt, duyên số đẩy đưa một cháu trai lớn làm rể một ông quản giáo cũ của tôi, hai ông xui gia thuờng nhậu với nhau, nhắc chuyện cũ, cả nhà cười ra nước mắt.

......................................................................................

Lệ Chi
Câu chuyện của ông An Trường nhắc lại cho tôi sự việc nhà thờ Vinh Sơn ở Sài Gòn. Nhà tôi ở ngay bến xe đi Đà Lạt trên đường Lê Hồng Phong. Sáng sớm hôm ấy tôi không nhớ rõ ngày, bỗng dưng một toán bộ đội, công an đập cửa xông vào nhà tôi, chạy lên ban công sau nhà ở lầu ba, rồi tôi nghe súng bắn đi xối xả, từ nhà tôi và mấy nhà chung quanh, lâu chừng 5, 10 phút. Cả khu phố im lặng, tôi ôm hai đứa con rúc dưới gầm cầu thang.

Chừng mấy giờ sau thì bộ đội công an rút ra khỏi nhà chúng tôi. Tôi và ba tôi bò lên sân thượng thì thấy phía sau nhà thờ Vinh Sơn, cách nhà tôi vài trăm mét có nhiều vết đạn lỗ chỗ. Mấy ngả đường sau đó bị bao vây gần hết cả ngày, chợ búa trong hẻm không bán buôn.

Sáng hôm sau tờ Tin Sáng loan tin là nhà thờ Vinh Sơn của cha Minh ( có lẽ mục sư thì đúng hơn) có tàng trữ hàng ngàn truyền đơn phản động đứng tên "Thống Soái Nguyễn Cao Kỳ", có dấu một súng lục, một bộ đồ với quân hàm đại Úy ngụy. Ngoài ra còn bắt được hàng triệu tờ tiền giả, máy in mấy triệu giấy bạc giả một ngày, máy liên lạc xuyên đại dương, kèm theo hình hai cái máy bự như hai cái va-li đen. Ba tôi lẩm bẩm "Cái chức vụ, cái con người nghe đến là đã thấy phát ghét rồi", còn tôi nghĩ ngu gì mà ngu quá, lúc này mà còn giấu ba cái quân hàm với quần áo Sĩ quan ngụy. Còn máy in nữa chứ, nhỏ xíu mà in được cả mấy triệu tờ giấy bạc nhiều màu một ngày, chắc là tôi dốt đặc với loại máy tối tân này. Mẹ tôi thì thực tế hơn "Thôi thế là chồng mày đến bao giờ mới được về ".

David Hồ, Anh quốc
Câu chuyện của bạn An Trường, tp.HCM cũng giống như chuyện của ông ngọai tôi ở Việt nam. Nhưng chỉ khác là ông ngọai tôi là bộ đội đánh Pháp trận Điện Biên Phủ năm 1954. Về thăm nhà sau bao năm xa cách 2 ông cháu rất hay nói chuyện và tranh luận về chính trị.

Ông ngọai tôi có vẻ hài lòng và mãn nguyện về cuộc sống hiện tại ở VN. Cái gì ông tôi cũng so sánh với cái ngày còn đánh Pháp. Đối với ông tôi thì cái gì cũng cực kì phát triển. Ông có hỏi tôi là liệu đến bao giờ thì Việt nam mình được bằng châu Âu bây giờ. Tôi trả lời là phải đến 1 trăm năm nữa thì ông ngọai tôi tỏ ra rất buồn! Tôi chỉ mong sao cho ông ngọai tôi sống thật lâu để được chứng kiến xem lời tôi nói có đúng hay không.

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân