|
Hiện tượng thơ photo ở Việt Nam | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Trong thời gian qua tại Việt Nam, xuất hiện một hiện tượng xuất bản ‘phi chính thức’: thay vì đưa đi in thơ tại các nhà xuất bản, nhiều nhà thơ đã chọn giải pháp in vi tính hoặc photocopy và phân phát cho những người đọc thơ và bạn bè. Đã xuất hiện cụm từ “văn hóa photo”, một hiện tượng chủ yếu được nhìn thấy tại TP. HCM. Bài viết sau đây của tác giả Chính Vĩ gửi cho đài BBC phác thảo chân dung một hiện tượng nhìn thấy gần đây trong làng thơ Việt Nam: Theo thông tin nội bộ thì Bộ Văn hoá và Cục xuất bản Việt Nam sắp đưa ra thí điểm trong bốn năm ba NXB tư nhân đầu tiên, kể từ năm 1975. Theo phân bố, sẽ thí điểm ở TP.HCM hai và một thì ở Hà Nội. Cho dù thông tin này chính xác tới mức nào thì đối với ngành xuất bản ở Việt Nam, mà cụ thể là những người làm sách cũng khó mà tránh khỏi những khấp khởi hi vọng đổi đời. Cũng theo thông tin nội bộ ngành báo chí, thì những tờ báo lớn như Saigon Times, SGGP sẽ cử những cá nhân của cơ quan mình ra đấu thầu. Giả sử những 'đại ca' lớn và giàu mạnh như thế này trúng thầu, thì quả thực cái ước vọng có những NXB tư nhân vẫn còn là chuyện xa vời. Bởi, những đại diện thí điểm này chắc chắn là người trong Ðảng Cộng sản Việt Nam hoặc là người gắn kết trực tiếp quyền lợi và nghĩa vụ của mình với Nhà nước. Mà khi những đối tượng như thế này đứng ra làm NXB tư nhân, lại nằm trong giai đoạn thí điểm thì cái kết quả mà Bộ văn hoá hay Cục xuất bản thu được sau 4 năm cũng chỉ là một kết quả không thực tế. Nhưng cho dù những đối tượng trên không trúng thầu, nhưng cái quy củ hoạt động của NXB tư nhân vẫn y như các NXB xưa nay thì việc xuất hiện thêm NXB tư nhân cũng chỉ là chuyện thêm thuyền thêm sóng. Bởi, nếu sản phẩm của NXB tư nhân vẫn phải chui qua các cửa biên tập và kiểm duyệt vốn nhiêu khê, rắc rối như xưa nay thì không nên có thêm NXB làm gì. Trong khi đó, thực tế của các NXB và cả hệ thống phát hành văn hoá phẩm xuất bản tại Việt Nam trong hơn 5 năm qua là do những tư nhân, những đầu nậu chi phối. Mức chi phối, theo những người trong ngành xuất bản là lên đến 95%, các NXB chỉ còn làm mỗi một việc là in một số bộ sách theo thông lệ của tên NXB, hoặc theo chỉ định (ví dụ NXB Lao Ðộng thì in vài tác phẩm về sản xuất nông nghiệp), còn lại là bán giấy phép cho các đầu nậu. Hôm nay, những đầu nậu này được hợp thức hoá danh phận của mình bằng các công ty trách nhiêm hữu hạn và dịch vụ. Nghĩa là họ có tư cách pháp nhân để đứng ra liên kết, ký hợp đồng và vạch ra các chiến lược để chiếm lĩnh thị trường. Tại TP.HCM, giới văn hoá phẩm xuất bản ai không từng nghe đến tên của các nhà sách như Nguyễn Văn Cừ, Quang Minh, Văn Lang, Hồng Ðức, Minh Trung, Trẻ, Quỳnh Mai... và cả các nhà sách quốc doanh, sách-rồi cả cổ phần-nhân viên kinh doanh của các đại gia này cũng chiếm đa số. Những vần thơ chui dưới kéo Ði sâu hơn vào nhu cầu thực tế, mà cụ thể là với những người cầm bút, thì cái ước muốn tác phẩm của mình được in và được đọc như nó vốn thế (nghĩa là không bị cắt xén do biên tập) đang là ám ảnh của rất nhiều người.
Cũng cần nói rõ hơn, các tác phẩm (cụ thể là thơ) bị biên tập, bị cấm xuất bản không phải do nó vi phạm những điều lệ của Cục xuất bản hay vi phạm pháp luật, thuần phong mỹ tục mà do nó không cùng hệ thẩm mỹ với người biên tập (thường cũng là những nhà văn-nhà thơ). Nên cũng không có gì ngạc nhiên, khi một tác phẩm nào đó, NXB A (cụ thể là biên tập viên ở đó) từ chối, nhưng với NXB Z nào đó thì được in. Trước cái sự phi lý này, nhiều nhà thơ đã chọn giải pháp in vi tính hoặc photocopy để tác phẩm của mình, tuy theo cái lối rất hẹp (vài chục cuốn) nhưng vẫn được trinh nguyên đến với người đọc. Nói như nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh, người in tập thơ photo Của căn cước ẩn dụ như danh nghĩa tập thơ xuất bản đầu tiên tại TP.HCM thì: "Mặc dù gọi là xin, nhưng thực ra có cái gì cho không đâu. Ðúng tên của nó phải gọi là mua và bán. Mua giấy phép và bán quyền được phép in và phát hành. Ðã mua và bán, lẽ ra phải thoải mái. Ðằng này vừa muốn bán vừa sợ mất quyền chuyên chế. Và kẻ mua, vẫn không mua được cái thứ mà đúng ra không nên có trên đời. Ðó là giấy phép (...) Tôi có mấy chục người quen, một ít người bạn, và chỉ với cái văn minh vi tính, thơ tôi có thể được đọc một cách sạch sẽ mà không phải khom xuống để chui qua sự khám xét nào". Thơ nhà làm tự in
Nói như nhà thơ Lý Ðợi, thành viên trụ cột của nhóm Mở Miệng, người từng phát ngôn cho văn hoá photo trên tờ Thơ của Hội nhà văn Việt Nam, thì: "Sở dĩ các nhà thơ chọn giải pháp in photo, cũng vì mấy lý do sau. Một, không muốn hoài theo sự lãng phí trong việc xuất bản chính quy, mỗi năm có khoảng 1000 tập được in, tốn biết bao tiền của nhưng thơ thì cứ nhàn nhạt (chung văn hoá biện tập mà), có ai thèm đọc đâu." "Hai, không muốn tác phẩm của mình bị lưỡi dao cắt xén nhúng mũi vào, bởi sự sáng tạo thì chậm chạp mà sự cắt xén thì dã man. Ba, cũng lộ rõ cái ước muốn có được những kiểu xuất bản không thiến đi sinh lực của tác phẩm. Tóm lại, thơ nói riêng và sách báo nói chung, đã đến lúc nên thay đổi quan niệm và điều lệ xuất bản". Và cũng theo Lý Ðợi, thì với xu hướng mới, kỷ nguyên của thông tin và Internet, ngăn chặn sự tìm kiếm tự do-dân chủ của từng cá nhân cũng đồng nghĩa với cản bước sự phát triển chung của cả cộng đồng. Trở lại với vấn đề NXB tư nhân, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh có phát biểu một ý: "Trong thời kinh tế thị trường như hiện nay, mọi thứ đều là hàng hoá - ngay cả văn hoá phẩm xuất bản. Mà hàng hoá thì phải chịu chung quy luật cung-cầu; và đáng lẽ mọi người phải được quyền tự mình làm ra hàng hoá để cung ứng cho nhu cầu mà người ta nắm bắt được." "Thơ hay sách cũng thế, nhu cầu bạn đọc thì cần những thứ mới lạ, những thể nghiệm táo bạo hơn...mà xuất bản thì cứ cản mũi, không gọi là phản động (theo nghĩa chống lại sự chuyển động) thì còn gọi bằng gì...Tôi nghĩ, nếu Việt Nam vẫn còn những cơ quan phụ trách văn hóa tư tưởng độc quyền, bảo thủ thì không bao giờ có được tự do xuất bản đúng nghĩa. Chỉ khi nào nhà nước xem văn hoá, sách báo cũng chỉ là một thứ hàng hoá bình thường, được tự do cạnh tranh như những mặt hàng khác thì lúc ấy, may ra mới có NXB tư nhân thực sự". ...................................................................................................................... Trần Minh, TP. HCM Tôi lấy thí dụ như ở nước Mỹ ngày xưa khi các tác phẩm dù hay mấy đi chẳng nữa thì cái nhìn chỉ thu hẹp vào màu sắc tôn giáo như tác phẩm The day of the doom. Sau này nhờ không khí tự do mà nước Mỹ có những nhà văn với nhiều phong cách khác nhau như Ernest Hemingway, F.Scott Fitzgerald, O'Neill.... Thế nhưng không phải tự dưng ta có một Hemingway tài năng đâu! Trước khi có Hemingway ta phải có một nhà biên tập đầy bản lĩnh và tài năng O'Brien. Tất cả các bản thảo cuả Heminway đều bị các nhà biên tập khác từ chối không in đến nỗi có lần nhà văn đã than là sẽ từ bỏ không viết nữa cho đến khi gặp O'Brien. ông này phá lệ nhận in truyện của Hemingway và nhờ thế nhân loại mới biết đến những tác phẩm của ông ta. Ở một nước mà sự độc quyền quá lớn thì ta không thể nào có được tác phẩm hay nếu có hay thì cũng không có gì mới lạ. |
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||