Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
23 Tháng 1 2005 - Cập nhật 00h32 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Phân tích về thuế thu nhập cố định
 

 
 
Thủ đô Bucharest của Romania
Romania là nước mới áp dụng chính sách thuế cố định cho cả thuế thu nhập lẫn thuế công ty
Chính sách thuế thu nhập cố định có tác dụng ra sao, ưu khuyết điểm thế nào, và tại sao lại càng ngày càng phổ biến tại các nước Đông và Trung Âu?

Romania mới đây tuyên bố áp dụng chính sách thuế thu nhập và thuế công ty với tỉ lệ cố định từ năm nay, với tỉ lệ thuế đồng bộ là 16%.

Như vậy Romania cũng đi theo mô hình của các nước cựu cộng sản khác.

Điều này khiến cho nhiều người đặt câu hỏi là tại sao chính sách thuế thu nhập cố định lại trở nên phổ biến ở khu vực Đông Âu?

Xu hướng

Việc chính sách thuế thu nhập với tỉ lệ cố định được áp dụng trở lại gần đây vốn là do Estonia dẫn đầu.

Estonia là nước bắt đầu các biện pháp cải cách thị trường tự do mạnh mẽ kể từ khi họ tái giành độc lập vào năm 1991.

Estonia đưa ra chính sách thuế thu nhập với tỉ lệ cố định vào năm 1994, và ngay sau đó, các nước láng giềng vùng Baltic là Latvia và Litva cũng theo chân trong lĩnh vực này.

Vốn ban đầu được coi là một chính sách chỉ dành cho các nền kinh tế nhỏ, chuyển đổi thành công, chương trình này dần có tầm quan trọng hơn và trở thành trọng tâm của chính sách kinh tế khi Tổng thống Vladimir Putin áp dụng nó tại Nga vào năm 2001, với tỉ lệ rất thấp là 13%.

Kể từ đó, thuế thu nhập cố định được áp dụng tại Serbia, Ukraina, Slovakia, Gruzia và mới đây nhất là Romania.

Phát triển

Cũng có một sự hài hước nhất định nếu xét tới tính phổ biến ngày càng tăng của chính sách thuế thu nhập cố định tại những nước mà cho tới 13 - 15 năm trước đây vẫn nằm dưới sự cai trị của các đảng Cộng sản.

Cũng phải nói thêm là sự phổ biến của chính sách này lại không phải là một hiện tượng tại những nền kinh tế tư bản chín muồi của phương Tây.

Hài hước là bởi vì chính ông Karl Marx, trong bản tuyên ngôn cộng sản năm 1848, là một trong những người đầu tiên kêu gọi có một chính sách "thuế thu nhập luỹ tiến nặng" vào đúng thời điểm mà các nền kinh tế đang công nghiệp hoá khi đó coi việc áp dụng thuế thu nhập cố định là một thông lệ.

Vilnius
Litva là nước áp dụng thuế thu nhập cố định

Sau đó, khi các xã hội tư bản trở nên giàu có hơn, họ lại áp dụng yêu cầu của ông Marx và đưa ra mức thuế cao hơn cho tầng lớp thu nhập cao hơn, nhằm có tiền trang trải cho các chương trình phúc lợi xã hội được cải thiện.

Kể từ đó, việc áp dụng thuế thu nhập luỹ tiến trở nên mang tính chính thống, mặc dù việc này đã bị thách thức trong hơn 20 năm trở lại đây.

Thách thức bắt đầu tại Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Reagan và tại Anh dưới thời bà Thủ tướng Margaret Thatcher vào đầu những năm 80.

Người ta đòi phải giảm số lượng thuế và giảm thuế suất áp dụng. Việc giảm thuế sau đó đã được thực hiện tại hầu khắp các nền kinh tế phát triển của thế giới.

Thế nhưng cho tới nay, chưa có đất nước phương Tây nào đưa ra chính sách thuế thu nhập cố định.

Tuy nhiên điều đó có thể thay đổi, đặc biệt nếu kinh nghiệm từ các nước Trung và Đông Âu cho thấy kết quả tích cực.

Ưu và nhược?

Andrei Grecu là kinh tế gia từ Romania, người mới đây xuất bản một nghiên cứu cho cơ quan cố vấn về thị trường tự do là Viện Adam Smith tại London, và nghiên cứu này ủng hộ việc áp dụng thuế thu nhập với tỉ lệ cố định cho Anh Quốc.

Ông nói: "Do chính sách thuế thu nhập cố định đưa ra mức thuế suất thấp hơn nên nó giảm đi chuyện người ta tìm cách trốn thuế. Người dân sẽ sẵn lòng đóng thuế hơn khi mức thuế thấp hơn".

"Tại Tây Ban Nha, khoảng 1/5 nền kinh tế là kinh tế ngầm, và người ta đang tính chuyện áp dụng thuế thu nhập cố định nhằm đưa phần kinh tế này ra công khai để đánh thuế".

"Và đặc biệt tại những nước từ Đông Âu, chuyện áp dụng hệ thống thuế cố định dễ dàng hơn so với những nền kinh tế phát triển ở mức cao như Anh và Mỹ là bởi vì nền kinh tế của họ đang phát triển và những điều kiện cơ bản hiện đang được hình thành, do đó, thực thi chính sách này dễ dàng hơn nhiều so với việc phải chống lại đủ thứ vận động hành lang tại Washington hay Westminster".

Ngoài chuyện giảm được tình trạng trốn thuế, những người ủng hộ việc áp dụng chính sách thuế thu nhập cố định còn lý lẽ rằng nó khuyến khích những người mất việc hay không có việc làm quay trở lại thị trường lao động; hoặc những ai đang làm việc thì sẽ làm việc chăm chỉ hơn.

Họ cho rằng người dân sẵn sàng đóng thuế hơn nếu đó là mức thuế cố định, đặc biệt nếu thuế suất lại ở mức thấp.

Riga, Litva
Nhiều người cho rằng thuế thu nhập cố định thường dành cho các nền kinh tế nhỏ

Và họ lấy chuyện gia tăng thu nhập thuế tại Nga làm dẫn chứng, kể từ khi Nghi áp dụng chính sách thuế đồng nhất cách đây bốn năm.

Thế nhưng những nghiên cứu thực hiện tại Nga bởi một cơ quan cố vấn khác của Anh, là Viện Nghiên cứu Tài chính, thì lại đưa ra những kết quả khác.

Một trong những người tham gia vào nghiên cứu này là nhà kinh tế người Đức, Alexander Klemm, cho biết: "Nếu quí vị có thể thực sự chỉ ra rằng việc trốn thuế được giảm đi mạnh, thì có lẽ những lý lẽ ủng hộ cho chính sách thuế thu nhập cố định này đã khá là mạnh mẽ".

"Thế nhưng trong trường hợp của Nga, chúng tôi không thấy điều đó. Việc người ta tuân thủ đóng thuế thì đã được cải thiện hơn, thế nhưng nó hoàn toàn không có tác dụng nào trong việc cung cấp lao động hay các nỗ lực làm việc. Và nói chung, việc cải cách thuế chắc chắn không phải tự giải quyết được cho nó theo cái nghĩa là giảm thuế suất thì sẽ dẫn đến thu nhập từ thuế cao hơn".

Thế nhưng làm sao mà các nhà nghiên cứu có thể chắc chắn rằng thu nhập thuế gia tăng tại Nga là do các nhân tố khác, như tăng trưởng kinh tế nhanh, và giá dầu cao, chứ không phải là do áp dụng mức thuế cố định thấp?

Vẫn Alexander Klemm: "Cách dễ nhất để giải thích điều này là chẳng hạn nếu anh chia số lượng người phải đóng thuế tại Nga thành hai nhóm: nhóm bị cải cách tác động, tức là những người trước đây phải đóng mức thuế cao hơn, với nhóm không bị tác động, là những người phải đóng mức thuế trước cải cách cũng tương đương với mức thuế cố định sau cải cách; thì anh sẽ thấy rằng tất cả những nguồn thu thuế phụ thêm là từ nhóm người thứ hai. Tức là từ những người không bị tác động bởi cải cách thuế".

"Và do đó, chúng tôi tin rằng trong khi các nguồn thu thuế có tăng, chuyện này không có gì liên hệ với việc cải cách thuế cả; mà đó là nhờ sự bùng nổ kinh tế nói chung, vốn không có liên hệ gì tới cải cách thuế".

Có lẽ sẽ phải mất nhiều thời gian cũng như kinh nghiệm từ một loạt các nước trước khi các kinh tế gia có thể chắc chắn về lợi ích của việc áp dụng chính sách thuế với tỉ lệ cố định.

Trong bất cứ trường hợp nào, nếu áp dụng một mức thuế đồng nhất tương đối cao - như tại Estonia, ban đầu người ta đặt mức thuế là 26% - thì chuyện đó sẽ không đủ tạo ra được một sự khuyến khích.

Do đó, sự thành công của chính sách này, về cơ bản, phải là liên quan tới việc giảm thuế suất.

Ông Andrei Grecu cho biết: "Ý tưởng về mức thuế sàn cố định là phải đưa ra một mức thuế thấp hơn so với tỉ lệ cao nhất, hoặc có thể tương đương với mức thuế trung bình, để khuyến khích các hoạt động kinh tế. Và nếu người ta gia tăng được các hoạt động kinh tế, thì chính phủ sẽ có thêm nhiều nguồn thu nhập. Ý tưởng về chính sách thuế cố định này, do đó, bao hàm thuế suất thấp hơn".

Triển vọng?

Trên thực tế, Andrei Grecu và những người đề xướng chính sách thuế thu nhập cố định còn muốn đi xa hơn thế.

Họ muốn chứng kiến nó trở thành một phần trong danh sách các biện pháp cải cách tài chính.

Phiên bản cấp tiến nhất của chính sách thuế cố định có lẽ sẽ là một tỉ lệ đồng bộ không chỉ cho thuế thu nhập, mà còn cho thuế công ty, như trong trường hợp hệ thống mới tại Romania.

Nga áp dụng thuế cố định từ năm 2001

Họ cũng muốn loại bỏ đi cái mà họ coi là đánh thuế kép, nói cách khác, nếu một công ty đã đóng thuế doanh nghiệp thì họ cho rằng những người nào đầu tư vào công ty không phải trả thêm thuế cho cổ tức của họ nữa.

Và phiên bản thuế cố định cấp tiến này còn bỏ đi tất cả các loại miễn thuế và trợ cấp thuế mà hiện nay, theo những người ủng hộ thị trường tự do, là bóp méo đi xu hướng đầu tư và tiết kiệm.

Một lợi thế của chính sách thuế cố định, khi kết hợp với việc bỏ đi miễn thuế và trợ cấp thuế, là nó sẽ đơn giản hoá đi rất nhiều thủ tục điền các đơn khai thuế.

Một trong những người ủng hộ chương trình này được biết đến nhiều nhất là kinh tế gia từ Hoa Kỳ, Alvin Rabuskha, đã nói rằng tờ khai thuế lý tưởng nên có kích cỡ chỉ bằng một tấm bưu thiếp mà thôi.

Những người đề xướng chính sách thuế cố định lý lẽ rằng việc áp dụng chính sách này sẽ giúp tiết kiệm rất lớn cho cả người đóng thuế lẫn giới chức thu và quản lý các khoản thuế.

Không những thế, nó còn giúp người ta có thể sử dụng và triển khai đội ngũ kế toán và các luật sư về thuế vào những nhiệm vụ khác.

Những luận điểm như thế đã gây ảnh hưởng lớn tại khu vực Trung và Đông Âu.

Thế nhưng tại phương Tây – cho dù đã có việc giảm thuế khổng lồ trong vòng 25 năm qua – chính sách thuế cố định vẫn không có tiến triển gì, và chỉ được các kinh tế gia về thị trường tự do quan tâm mà thôi.

Điều đó là vì thuế với tỉ lệ cố định thường có hai trở ngại lớn: thứ nhất, nó giảm đi rất nhiều phạm vi mà chính phủ có thể tái phân bổ thu nhập từ những người giàu hơn tới những người nghèo hơn, mà phải bằng cách đó thì mới tạo ra một xã hội công bằng hơn và gắn kết hơn.

Thứ hai, chính sách này – đặc biệt thông qua các biện pháp trợ cấp hay miễn thuế – làm mất đi khả năng của chính phủ là khuyến khích mọi người tiêu tiền vào những lĩnh vực mà giới chức cho rằng nên là mục tiêu mong muốn về mặt xã hội, chẳng hạn tiêu thêm vào quỹ lương hưu hay bảo hiểm y tế, hoặc mua nhà với các khoản cho vay đặc biệt.

Mặc dù các chính phủ phương Tây vẫn tiếp tục tỏ ra ngần ngại trong việc cổ suý chính sách thuế cố định này, phiên bản của thuế cố định ở thế kỷ 20 đã được thử nghiệm đầu tiên tại Anh quốc, tại hòn đảo Jersey trên eo biển giữa Anh và Pháp, vốn là nơi có sự tự trị khá cao.

Jersey đưa ra chính sách thuế cố định 20% vào năm 1940 – tức là ngay trước thời gian bị phát xít Đức chiếm đóng – và trong những thập kỷ gần đây, chính sách này đã giúp Jersey trở thành một hòn đảo thịnh vượng.

Thế nhưng khá nhiều nhà kinh tế thì nói sự thịnh vượng này là nhờ Jersey có mức thuế thấp cho các công ty và cá nhân từ Anh và nhiều nơi khác.

Một nơi khác - và là câu chuyện thành công lớn hơn - là cựu thuộc địa của Anh, Hongkong, nơi kể từ năm 1947 đã cho phép người dân được lựa chọn giữa loại thuế được phân chia cấp độ với thuế cố định.

Đa phần người dân tại đây chọn thanh toán sử dụng mức thuế cố định ở mức 16%.

Trong khi đó, hiện nay tại trung Âu, cả các đảng đối lập chính tại Ba Lan và Czech đều ủng hộ việc áp dụng chính sách thuế cố định.

Nếu hai nước này cũng theo chân các láng giềng phía đông và nam châu Âu của họ trong những năm tới và nếu họ thành công, thì chắc chắn chuyện này cũng sẽ khuyến khích các chính phủ phương Tây phải suy nghĩ lại những quan điểm của họ đối với chính sách thuế với tỉ lệ cố định.

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân